Friday, October 26, 2018

Nho giáo – Wikipedia tiếng Việt



Tranh vẽ của Nhật Bản mô tả Khổng Tử, người sáng lập ra Nho giáo. Dòng chữ trên cùng ghi "Tiên sư Khổng Tử hành giáo tượng"

Nho giáo (儒教), còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh.




Quá trình hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]


Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Nho giáo, Nho gia (đạo Nho) là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán tự từ "Nho" gồm từ "Nhân" (người) đứng gần chữ "Nhu". Nho gia còn được gọi là nhà Nho người đã học sách thánh hiền, có thể dạy bảo người đời ăn ở hợp luân thường, đạo lý…Nhìn chung "Nho" là một danh hiệu chỉ người có học thức, biết lễ nghĩa.

Tại Trung Quốc, Nho giáo độc tôn từ thời Hán Vũ Đế, trở thành hệ tư tưởng chính thống cả về chính trị và đạo đức của Trung Hoa trong hơn 2.000 năm. Từ thế kỷ thứ IV, Nho giáo lan rộng và cũng rất phát triển ở các nước châu Á khác như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.


Nho giáo nguyên thủy[sửa | sửa mã nguồn]


Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Đức Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo.


Bức chân dung cổ nhất về Khổng tử do họa sư Ngô Đạo Tử vẽ vào đầu thế kỷ VIII

Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Đức Khổng Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại Học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Bốn sách sau được gọi là Tứ Thư và cùng Ngũ Kinh hợp lại làm 9 bộ sách chủ yếu của Nho giáo và còn là những tác phẩm văn chương cổ điển của Trung Quốc. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học. Nếu xem Nho giáo như một tôn giáo thì Văn Miếu trở thành nơi dạy học kiêm chốn thờ phụng, và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Tuy nhiên, Nho giáo về cơ bản không được xã hội xem như một tôn giáo bởi Nho giáo không trả lời những câu hỏi cần thiết mà một tôn giáo có thể trả lời. Cho tới hiện nay, Nho giáo liệu có phải là một tôn giáo chính thức hay không vẫn là một đề tài tranh luận.

Mục tiêu của Nho giáo là phát huy tính thiện của con người, khiến người dân biết bỏ ác theo thiện, giúp mọi người đạt đến trình độ đạo đức cao nhất. Để làm được điều này mỗi người phải không ngừng rèn luyện nhân cách và đạo đức của bản thân. Sách Đại Học viết: "Đạo học lớn cốt để phát huy đức sáng, đức tốt đẹp của con người, đổi mới khiến lòng dân bỏ cũ theo mới, bỏ ác theo thiện, khiến mọi người đạt đến mức độ đạo đức hoàn thiện nhất. Có hiểu được phải đạt đến mức độ đạo đức hoàn thiện nhất thì mới kiên định chí hướng. Chí hướng kiên định rồi, tâm mới yên tĩnh. Tâm yên tĩnh rồi, lòng mới ổn định. Lòng ổn định rồi, suy nghĩ sự việc mới có thể chu toàn. Suy nghĩ sự việc chu toàn rồi, mới có thể xử lý, giải quyết công việc được thỏa đáng. Vạn vật đều có đầu có đuôi, có gốc có ngọn. Vạn sự đều có bắt đầu và kết thúc. Biết làm cái gì trước cái gì sau, tức là đã tiếp cận nguyên tắc của đạo rồi.[1]".

Nho giáo chủ trương giáo hóa mọi tầng lớp trong xã hội từ bậc quân vương đến kẻ thứ dân sao cho ai ai cũng thấm nhuần đạo học của thánh hiền, phát huy tính thiện sẵn có của bản thân, tự mình sửa đổi, rèn luyện cho tốt đẹp hơn. Nho giáo khuyến khích người có học dạy cho người ít học, người có đạo đức cảm hóa kẻ vô đạo, cải tạo xã hội, đem văn minh truyền bá khắp nơi. Khổng Tử muốn đến đất Cửu Di để ở, có người nói "Ở đó quá lạc hậu, làm sao mà ở được.". Khổng Tử nói "Có người quân tử ở đó, làm gì còn lạc hậu nữa".[2] Đây là tư tưởng nhập thế của Nho gia, mà có ý kiến cho là đối lập với tư tưởng "xuất thế lánh đời" của Phật gia hay Đạo gia[3] (mặc dù Phật giáo thực ra cũng là một nền triết lý nhập thế: bản thân Phật Thích-ca đã dành 49 năm đi thuyết pháp, khuyến thiện cho các giai tầng xã hội Ấn Độ và có giáo lý Thập vương pháp yêu cầu vua chúa phải tận tụy thương dân[4][5]). Khổng Tử nói: "Đạo không thể xa lánh người. Nhưng có người muốn thực hành đạo mà lại xa lánh người, như vậy thì không thể thực hành được đạo... Cho nên người quân tử dùng cái đạo lý vốn sẵn có ở người để giáo dục người, lấy cải sửa làm chính, giáo dục mãi cho đến khi thành người mới thôi. Cũng như ta trau chuốt cán rìu vậy, trau chuốt đến mức thành cán rìu mới thôi. Người ta có lỗi mà biết sửa là được rồi, không xa lánh họ nữa.[3]".

Thật ra, tính chất tôn giáo của Nho giáo rất mờ nhạt so với những tôn giáo khác, những lời dạy của Nho giáo không phải là từ thánh kinh mà được đúc kết từ chính những sự kiện trong lịch sử hoặc từ những tấm gương có thật trong cuộc sống. Khổng Tử nói "Ta chỉ thuật lại mà không sáng tác. Ta tin tưởng và hâm mộ văn hóa cổ. Ta trộm ví mình như Lão Bành.[6]". Nho giáo khuyên thế hệ sau cần biết học hỏi những thành công và tránh lặp lại những thất bại của thế hệ trước, là một học thuyết hướng dẫn về quan hệ xã hội và tu dưỡng bản thân.


Tống Nho[sửa | sửa mã nguồn]


Đến thời Tống, Nho giáo có sự phát triển đáng kể. Các nhà triết học thời kỳ này như Thiệu Ung, Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Chu Hy, Lục Cửu Uyên, Trần Lượng... đã đưa những khái niệm và triết lý mới vào Nho giáo tạo nên một trường phái Nho giáo có nhiều điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy của Khổng Tử và các học trò của ông.


Phong trào phục hưng Nho giáo[sửa | sửa mã nguồn]


Đến thế kỷ XX, với sự sụp đổ của chế độ quân chủ, Nho giáo mất vị thế độc tôn, thậm chí bị bài trừ ở ngay tại Trung Quốc trong thập niên 1960-1970 khi Mao Trạch Đông làm chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đến đầu thế kỷ XXI, đứng trước sự suy thoái của đạo đức xã hội, những giá trị của Nho giáo về tu dưỡng, giáo dục con người dần được coi trọng trở lại và được thúc đẩy thành phong trào tại các nước Đông Á.



Phục hưng Nho giáo trong thế kỷ XXI là phong trào đang lên ở Đông Á, nó xuất phát từ Trung Quốc và lan truyền ra các khu vực lân cận. Nhiều hội thảo quốc tế về phục hưng nền Nho học đã được tổ chức ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tập hợp các nhà nghiên cứu Nho giáo trong khu vực và trên thế giới đã kiến lập Hiệp hội nghiên cứu Nho giáo quốc tế. Trong buổi Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Hàn Quốc 2010, một số báo cáo ghi nhận "mặt trái của quá trình Tây phương hóa (nói cách khác là hiện đại hóa) đã làm cho xã hội Đông Á mất dần tôn ti trật tự, tinh thần cộng đồng và đoàn kết xã hội. Lớp trẻ dần chạy theo những thứ hào nhoáng của văn minh hiện đại mà bỏ xa dần các quan niệm hiếu nghĩa, trung chính, tiết độ". Các báo cáo này nhấn mạnh giá trị tinh thần của Nho giáo sẽ là công cụ hữu hiệu nhằm khôi phục lại giá trị đạo đức của xã hội[7]

Từ năm 2005, chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) đã khởi xướng phong trào đọc lại Luận ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống. Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí 26.000 nhân dân tệ cho một khóa học về đạo đức Nho gia, Đại học Phục Đán thu mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí rất cao.[8] Từ 2004 cho tới năm 2020, Chính phủ Trung Quốc có kế hoạch thành lập hơn 1.000 Học viện Khổng Tử trên khắp thế giới để quảng bá văn hóa truyền thống Trung Hoa.[9][10]

Chính phủ Trung Quốc đã chi hàng triệu USD cho hai chương trình nghiên cứu và biên soạn Nho tạng tại Đại học Nhân dân và Đại học Bắc Kinh. Bộ Nho tạng tinh hoa của Đại học Bắc Kinh với tổng số 500 tập dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015. Hai chương trình biên soạn Nho tạng nói trên là một hoạt động quy mô lớn chưa từng có để hiệu chỉnh và kết tập điển tịch Nho học lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Đồng thời đây cũng là một lần tổng kiểm kê di sản điển tịch Nho học trên quy mô toàn thế giới. Tại Hàn Quốc và Nhật Bản, hai đại học hàng đầu là Đại học Seoul và Đại học Tokyo cũng đều đã thành lập các trung tâm biên soạn Nho tạng riêng với kế hoạch hoạt động quy mô lớn. Trong xu hướng nghiên cứu Nho giáo đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới hiện nay, nghiên cứu kinh điển Nho gia có vị trí đặc biệt quan trọng.[11]

Ngày 24/9/2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến dự và phát biểu tại "Hội thảo Nho học với nền hòa bình và sự phát triển thế giới" nhân kỷ niệm 2565 năm sinh Khổng Tử. Đây là lần đầu tiên lãnh đạo cao nhất Trung Quốc dự hoạt động trên. Ông nhấn mạnh: Tư tưởng triết học phong phú, tinh thần nhân văn, giá trị đạo đức của Văn hóa truyền thống Trung Quốc là gợi ý hữu ích cho việc trị quốc. Nho giáo là bộ phận quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Quốc, có sức sống lâu dài, chứa đựng các gợi ý quan trọng giúp giải quyết những vấn đề của loài người hiện đại. Các tư tưởng "thiên hạ vi công, thế giới đại đồng", "dĩ dân vi bản, an dân phú dân lạc dân", "Nhân giả ái nhân, Dĩ đức lập nhân"… cần phải được kế thừa và phát huy. Ông nói: nghiên cứu Nho giáo chính là là để hiểu đặc tính dân tộc của người Trung Quốc, cần hấp thu sức mạnh truyền thống, việc quản trị quốc gia thời hiện đại càng cần có sự nâng đỡ của văn hóa truyền thống. Giáo sư Vương Kiệt ở Trường Đảng Trung ương Trung Quốc nhấn mạnh: sự du nhập văn hóa phương Tây đã khiến dân tộc Trung Hoa dần bị tha hóa, suy đồi về văn hóa và đạo đức, Đảng Cộng sản Trung Quốc dần nhận ra giá trị to lớn của văn hóa truyền thống Trung Quốc, hiểu rằng chỉ có kiên trì chủ nghĩa Mác, kế thừa có phê phán nền văn hóa truyền thống Trung Quốc, kiên trì nguyên tắc “cổ vi kim dụng”, “dương vi trung dụng” thì mới có thể thực hiện sự nghiệp phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa. Sức mạnh cứng (kinh tế và quân sự) rất quan trọng, nhưng sức mạnh mềm như văn hóa, đạo đức, tín ngưỡng, tinh thần, giá trị quan… cũng quan trọng không kém với một đất nước. Nếu đất nước đánh mất văn hóa, nền tảng đạo đức truyền thống thì dù kinh tế có giàu mạnh đến đâu thì cũng chẳng khác nào mất nước, mất dân tộc.[12]


Học viện Nho giáo tại thành phố Andong, Hàn Quốc

Học sinh tham gia ngoại khóa tại một Học viện Nho giáo ở Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, rất nhiều người nhận thấy rõ những giá trị đạo đức lâu đời của dân tộc đang mất dần đi. Sau cuộc chiến liên Triều 1950-1953, Hàn Quốc áp dụng hệ thống giáo dục chịu nhiều ảnh hưởng của giáo dục phương Tây, Nho giáo bị công kích và bị coi là lỗi thời. Ông Pak Seok-hong nhấn mạnh sự sai lầm của hệ thống giáo dục đó: việc quá nhấn mạnh vào học tiếng Anh và toán đã chiếm chỗ của các môn học như đạo đức và lịch sử. Ông thấy đất nước "đang biến thành vương quốc đầy súc vật": người trẻ chửi người già trên tàu, những đứa trẻ tự tử để khỏi bị bắt nạt... Sự hòa hợp, kính trọng người cao tuổi và lòng trung thành với Tổ quốc - những đức tính đó nay đã phai nhạt trong giới trẻ Hàn Quốc. Pak Seok-hong nói: "Chúng ta đã xây dựng được nền kinh tế mạnh mẽ, nhưng đạo đức của dân tộc đang trên bờ vực của sự sụp đổ. Chúng ta phải khôi phục lại nó và các Seowon (học viện Nho giáo) là nơi chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời".[13]

Hiện nay, số lượng học sinh Hàn Quốc đến các học viện Nho giáo để học tập ngoại khóa ngày càng tăng, lên tới hàng trăm ngàn học sinh mỗi năm. Tại đây, học sinh được dạy những lễ giáo đạo đức từ lâu đã không còn xuất hiện tại trường học, từ việc ăn tối, uống trà đến việc thưa chuyện lễ phép với cha mẹ. Theo ông Pak Sung-jin - giám đốc điều hành của Hiệp hội Seowon quốc gia Hàn Quốc, có khoảng 150 học viện Nho giáo ở khắp Hàn Quốc đã mở trở lại các chương trình ngoại khóa tương tự. Ông tin rằng người Hàn Quốc đương đại cần từ bỏ cách nghĩ thiển cận coi Nho giáo là "lỗi thời" và cần nghiêm túc học hỏi lại nhiều giá trị tinh thần, cách đối nhân xử thế từ xã hội xưa.[13]

Đại diện cho học giả Hàn Quốc, giáo sư An Bỉnh Chu, Đại học Thành Quân Quán đã nêu lên lời cảnh báo: “Ngày nay, xã hội­ đầy tiếng kêu cứu phản ánh nỗi lo lắng về sự hoang tàn của nhân tâm. Môi trường bị ô nhiễm, luân lý bị suy đồi, con người phơi trần nỗi khát khao truy cầu lợi ích và dục vọng. Nội tâm con người hoang tàn, giá lạnh. Quan hệ giữa người và người chỉ còn là cạnh tranh vì lợi ích. Tất cả loài người đang đứng trước nguy cơ diệt vong“. Và chính từ những báo động trên, ông đã nêu lên nên trở lại những nguyên lý đạo đức cuộc sống mà Lý Hoảng (1501-1570), đại sư Nho gia Hàn Quốc đã từng nhắc nhở trong vấn đề tâm học đạo đức. Ở hội nghị quốc tế “Nho giáo với xã hội tương lai” ở An Đông - Hàn Quốc (10-2001), các giáo sư Pháp, Nga, Mỹ, Anh v.v... đều có ý muốn nghiên cứu tư tưởng Nho giáo nhằm tìm con đường giải quyết những bế tắc trong quan hệ con người, xã hội và đặc biệt là gia đình ở phương Tây trong giai đoạn hiện tại. Họ đều đề cao đạo đức “Nhân”, “Lễ”, "Nghĩa" của Nho giáo.



Tổ chức xã hội[sửa | sửa mã nguồn]


Học thuyết về quản lý quốc gia và làm lợi cho dân của Nho giáo là một phần của truyền thống văn hóa Trung Quốc rất sâu sắc. Nó đã thiết lập cho mình những lý tưởng đạo đức và hệ thống giá trị tiêu chuẩn xác lập nền tảng cho xã hội Đông Á trong hàng ngàn năm. Nho giáo giúp các xã hội này có tính tổ chức cao, duy trì trật tự xã hội, giúp gìn giữ các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội ở một mức khá cao, giúp xã hội văn minh và ổn định lâu dài. Nho giáo tiến hành tất cả những điều đó không phải bằng vũ lực mà bằng chủ trương giáo dục toàn diện từ vua quan đến nhân dân để mỗi người đều tự giác thực hiện tùy theo vai trò của mình, đó cũng là lý do tại sao những nước sùng đạo Nho đều rất coi trọng giáo dục. Sách Đại học có câu: "Làm vua thì hết mình thực hiện đức nhân. Làm bề tôi thì hết mình thực hiện đức kính. Làm con thì hết mình thực hiện đức hiếu. Làm cha thì hết mình thực hiện đức từ. Cùng người trong nước quan hệ với nhau phải hết mình thực hiện đức tín."[14]

Trong thế giới quan Nho giáo, cả ba yếu tố Quốc gia - Gia đình - Cá nhân đều có liên hệ chặt chẽ với nhau. Nho giáo xem cá nhân là yếu tố căn bản nhất cấu thành nên gia đình và xã hội. Mỗi cá nhân có đức hạnh tốt thì gia đình, xã hội sẽ tốt và ngược lại.




Sách Đại học viết "Muốn trị quốc tốt trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Người trong gia đình, gia tộc mình mà không giáo dục được thì sao có thể giáo dục được người khác... Một nhà thực hiện nhân ái có thể dấy lên cả nước một phong trào nhân ái. Một nhà thực hiện khiêm nhường, có thể dấy lên cả nước một phong tục khiêm nhường. Còn nếu một người tham lam tàn bạo, tất dấy lên cả nước phạm thượng, làm loạn... Nếu bản thân mình che giấu những hành vi không hợp với đạo trung thứ thì sao có thể giáo dục được người khác làm theo đạo trung thứ. Cho nên muốn trị nước tốt, trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình."[16]

Nho giáo đề cao lòng trung thành của cấp dưới với lãnh đạo. Tuy nhiên, lòng trung thành đó không phải là sự mù quáng tuân lệnh như đời nay vẫn hiểu lầm. Khổng Tử nói "Yêu con mà không dạy con phải chịu khó nhọc được ư ? Trung với vua mà không khuyên can vua theo đường chính ư ?[17]". Khổng Tử dạy rằng bề tôi chỉ trung thành với bậc minh quân đáng cho mình thờ; nếu vua tàn ác vô đạo thì có thể bỏ mà thờ ông vua khác, như Khổng tử đã bỏ vua nước Lỗ. Nghĩa Quân – Thần trong Nho giáo có định phận rõ ràng như Khổng tử đã viết: “Vua lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua”. Mạnh Tử đã bảo Tề Tuyên Vương rằng: “Vua xem bề tôi như tay chân, thì bề tôi xem vua như bụng như lòng. Vua xem bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi xem vua như người lạ trong nước. Vua xem bề tôi như đất như cỏ thì bề tôi xem vua như giặc như thù", “Kẻ làm hại đức nhân gọi là tặc; kẻ làm hại đức nghĩa gọi là tàn. Kẻ tàn, kẻ tặc chẳng qua là một người thường mà thôi. Tôi từng nghe vua Võ vương chỉ giết một người thường là Trụ mà thôi, chứ tôi chưa hề nghe Vũ vương giết vua”. Tuân tử cũng nói: “Tru bạo quốc chi quân, nhược tru độc phu” (Giết một ông vua tàn bạo cũng như giết một kẻ ác độc).

Quan niệm của Khổng Tử về một vị quan tốt là người đó có giúp ích cho xã hội hay không chứ không phải người đó có trung thành mù quáng với quân vương hay không. Tử Cống hỏi "Quản Trọng không phải là người có nhân chăng ? Vua Tề Hoàn Công giết công tử Củ, Quản Trọng không tự sát lại còn làm tể tướng cho Tề Hoàn Công.". Khổng Tử nói "Quản Trọng làm tể tướng cho Tề Hoàn Công, giúp Tề Hoàn Công bá chủ chư hầu, làm cho thiên hạ thái bình, đến đời nay dân vẫn còn chịu ơn. Nếu không có Quản Trọng, sợ chúng ta hôm nay còn đầu bù tóc rối, áo quần rách rưới lang thang khắp đây đó. Quản Trọng đâu có như người thường, vì việc nhỏ mà tự sát ở khe núi để cho chẳng ai biết đến.".[18]

Về sau, một số người dẫn ra những câu như “Trung thần không thờ hai chúa”, "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung"... để chỉ trích Nho giáo đã khuyến khích lòng trung thành mù quáng, tạo điều kiện cho vua chúa nô dịch người dân. Thực ra, những câu nói này là của phái Pháp gia (một luồng tư tưởng khác cùng thời với Khổng Tử) chứ không phải của Nho gia. Nhà nghiên cứu Kim Định viết: “…cái bổn gốc của Nho giáo là “chí trung”, mà trung là không cậy dựa, “trung lập nhi bất ỷ cường tai kiểu”. Đó là cốt yếu những bài học dạy học của Khổng tử. Đừng đem những câu Hán học như “trung thần bất sự nhị quân” hay “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” mà gán vào miệng ông. Làm thế là thiếu óc khoa học. Cha ông ta tuy về phê bình chưa đạt cao lắm nhưng không để cho những câu tầm gửi kiểu trên làm thui chột chí bất khuất”[19] Lý giải điều này, trong bài Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta, học giả Phan Khôi có nói: "Ở Nam kỳ đây, hạng tầm thường, hay lặp đi lặp lại cái câu “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung; phụ sử tử vong, tử bất vong, bất hiếu”, họ cho là lời thánh nói ra. Nhiều người đem hỏi tôi, tôi phải lấy làm lạ. Hoặc giả có, mà tôi lâu nay ít hay ôn nhuần lại sách cũ rồi quên đi chăng, chớ theo như cái trí nhớ trong đầu tôi, thì câu nầy chẳng có trong sách nào hết, chẳng ông thánh nào nói hết, mà chừng như là lời của Lê Tử Trình nói trong tuồng Sơn hậu hồi thứ ba ! Đó, một hạng người nữa, cứ ù ù cạc cạc, hễ nghe câu chữ nho, thấy cuốn sách chữ nho, thì cho là đạo Khổng Tử ở đó.".

Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội an hòa, Nho giáo nêu nguyên tắc quản lý xã hội như sau:


  • Thực hiện "Chính danh": nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương vị, địa vị của mình: vua phải theo đạo vua, tôi phải theo đạo tôi, cha phải theo đạo cha, con phải theo đạo con, chồng phải theo đạo chồng, vợ phải theo đạo vợ... Nếu như mọi người không chính danh thì xã hội ắt trở nên hỗn loạn.

  • Thực hiện "Văn trị - Lễ trị - Nhân trị": Đây là nguyên tắc có tính chất đường lối căn bản của Nho giáo. Văn trị là đề cao cai trị bằng hiểu biết để mọi người tự giác tuân theo. Lễ trị là dùng tổ chức, thiết chế xã hội để trị quốc, đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị quốc. Nhân trị là trị quốc bằng lòng nhân ái.

  • Đề cao nguyên lý công bằng xã hội: Khổng Tử đã nói: "Không lo thiếu mà lo không đều, Không lo nghèo mà lo dân không yên". Sự không công bằng là mầm mống của rối loạn xã hội. Quan niệm công bằng của Nho giáo không phải là cào bằng, mà là công bằng trên cơ sở "chính danh".

Từ thời nhà Hán, Nho giáo đã trở thành trung tâm cho việc quản lý xã hội, duy trì đạo đức tại Trung Hoa trong suốt hơn 2000 năm. Năm 1397, Minh Thái Tổ ra lệnh mỗi làng phải dán một tờ ghi sáu điều Đạo Nho để dân noi theo: "Phải hiếu thảo với cha mẹ, phải kính trọng người già, phải thờ phụng tổ tiên, phải dạy con nên người, phải yên ổn làm ăn". Năm 1670, vua Khang Hi nhà Thanh cũng ra một sắc lệnh gồm 16 điểm, dạy dân phải hiếu lễ, cần kiệm, nộp thuế đúng kì... và ra lệnh các hương chức và kẻ sĩ trong làng cứ nửa tháng một lần đọc và giảng cho dân nghe. Những kẻ bất hiếu, ăn cắp ăn trộm, cưỡng hiếp gian dâm... phải ghi tên vào một cái bảng treo trước cổng làng để nhân dân lấy đó làm răn.

Nhờ đạo Nho, các triều đình ít phải can thiệp vào đời sống của dân, cho các làng tự lập hương ước mà gần như tự trị. Một học giả châu Âu khen người Trung Hoa tổ chức xã hội giỏi hơn người La Mã và mọi đế chế khác. Các kẻ sĩ ở mỗi làng, tổng, huyện (một vị trưởng lão trong làng, một thầy đồ hay một vị khoa bảng)... được dân tin, giúp chính quyền được nhiều việc cai trị, giáo dục, hòa giải các vụ kiện, trị bệnh, giữ an ninh. Họ được dân coi trọng hơn cả các quan lại, mà quan lại cũng phải nể họ. Vì vậy, Trung Hoa đất đai mênh mông mà số quan lại khá ít (cuối đời Thanh, Trung Quốc có 450 triệu dân mà chỉ cần 100.000 quan lại), triều đình không tốn nhiều lương bổng mà vẫn duy trì được xã hội ổn định suốt hàng trăm năm.

Đặc biệt là cứ mỗi lần đất nước bị họa vong quốc thì lại có hàng trăm kẻ sĩ Nho giáo sẵn sàng liều mình chống ngoại xâm, nếu chẳng may thất bại thì họ liền tuẫn quốc chứ không chịu sống nhục. Đã vậy, không chỉ nam giới liều thân hộ quốc nơi tiền tuyến mà phụ nữ ở hậu phương cũng một lòng chung thủy để người nam nhi an tâm ra đi gánh vác mệnh nước, nếu chồng hy sinh họ sẵn sàng tuẫn tiết để giữ lòng son. Đó là đặc điểm của những dân tộc thấm nhuần đạo Khổng. Trong lịch sử Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản... có hàng trăm tấm gương như vậy (Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Lê Tuấn Mậu, Văn Thiên Tường, Dương gia tướng,...). Đó là nguồn gốc tinh thần chống ngoại xâm bền bỉ của các dân tộc Á Đông chịu ảnh hưởng của Nho giáo.

Theo Tommy Koh, Giám đốc Viện nghiên cứu chính sách Singapore, dưới ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo, tất cả các xã hội Đông Á đều không ưa chủ nghĩa cá nhân cực đoan, không thích tự do báo chí theo kiểu lá cải thổi phồng công luận, mặc cho truyền thông thoả mãn cả những thị hiếu tầm thường, lảng tránh hoặc xem nhẹ chức năng giáo dục, hướng thiện cần thiết đối với xã hội. Không phải người Đông Á phản đối tự do báo chí, tự do ngôn luận, song nếu báo chí - truyền thông tự do đến mức phá vỡ những ranh giới đạo đức và lẽ phải, trở thành diễn đàn của những kẻ bất lương, cổ súy những hành vi băng hoại đạo đức xã hội... thì không thể nhân danh tự do mà chấp nhận được. Thái độ này là kết quả của việc đề cao trách nhiệm cá nhân với các giá trị gia đình, cộng đồng, đạo đức và trách nhiệm. Văn hoá Nho giáo và cả Phật giáo đều không chấp nhận lý lẽ của việc con cái kiện tụng cha mẹ, trừ những trường hợp hãn hữu khi cha mẹ không còn xứng đáng vì quá ác độc. Với các nền văn hoá này, mọi chuyện thuộc quan hệ cha mẹ - con cái đều cần phải xử lý trong khuôn khổ giá trị huyết thống. Vượt ra ngoài khuôn khổ này, quan hệ cha con sẽ không còn. Thực tế cho thấy, trong các xã hội Đông Á, khi những người có quan hệ huyết thống đã đưa nhau ra Tòa án để xét xử, thì dẫu mọi chuyện có được giải quyết ổn thoả, tình nghĩa cũng chẳng còn hoặc chẳng còn là bao.


Lễ nghi[sửa | sửa mã nguồn]


Nho giáo rất xem trọng Lễ nghi vì nó là biểu hiện của một xã hội văn minh và có trật tự. "Lễ" là những quy tắc mang tính hình thức được xã hội thừa nhận để bày tỏ sự tôn trọng đối với người khác, với cộng đồng hoặc với những định chế xã hội và để nhận được sự tôn trọng của xã hội. Việc giữ Lễ là một cách tu thân và chứng tỏ con người biết tuân thủ những nguyên tắc đạo đức trong quan hệ với người xung quanh. Một xã hội không biết giữ Lễ là xã hội hỗn loạn, kém văn minh và suy đồi. Lễ giáo phai nhạt cũng là biểu hiện các mối quan hệ giữa con người trong xã hội đã xấu đi, trật tự xã hội đã suy yếu. Lễ nghi sẽ tạo ra một xã hội hài hòa trong đó mọi người đều tự tiết chế trong mối quan hệ giữa người với người, không để những cảm xúc tiêu cực biến thành hành động mạo phạm, bất kính với người khác. Hữu Tử nói: "Tác dụng của lễ đạt được sự thống nhất, hài hòa mới là đáng quý. Phương pháp trị nước của những bậc vua hiền thời cổ đại có đúng đắn là ở chỗ này: việc lớn việc nhỏ đều tuân thủ nguyên tắc hài hòa. Nhưng có điều không nên làm: chỉ biết hài hòa là quý, rồi trong mọi việc chỉ biết hài hòa, không lấy lễ nghĩa để tiết chế thì việc gì cũng không xong.[20]". Khổng Tử nói "Người quân tử học rộng về văn chương lại biết dùng lễ để chế ước, ràng buộc mình sẽ không bao giờ xa Kinh phản Đạo.[21]". Mỗi xã hội, mỗi thời đại đều có những nghi thức của riêng nó nhưng chung quy không xã hội văn minh nào có thể bỏ đi những lễ nghi mà chỉ thay đổi đối tượng, mục đích hoặc hình thức.

Nho giáo chủ trương lễ nghi phải phù hợp với địa vị xã hội, công lao, đức độ, tài năng, tuổi tác của người hành lễ và người nhận lễ. Ví dụ như "Nếu cha là quan đại phu, con là kẻ sĩ, khi cha chết thì dùng lễ của quan đại phu mà chôn cất cha, dùng lễ của kẻ sĩ thờ cúng cha."[22] hoặc "Khi cử hành tế lễ ở tông miếu, phải biết sắp xếp bài vị đúng thứ tự, theo đẳng cấp thứ bậc tước vị đã được ông cha quy định, nhằm phân biệt rõ công lao, đức độ, tài năng. Khi mọi người cùng uống rượu thì người ít tuổi, thứ bậc thấp mời người nhiều tuổi, thứ bậc cao trước. Mục đích là đem lễ nghĩa về chữ hiếu quán triệt đến người ít tuổi."[23]. Tuy nhiên cũng có những quy tắc chung mà từ quân vương đến thứ dân đều phải tuân thủ như "Phép để tang ba năm thực hiện từ thứ dân cho đến thiên tử (vua). Để tang cha mẹ phải là ba năm, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, tất cả đều như nhau (bởi con người trong 3 năm đầu đời đều "đói không thể tự ăn, rét không thể tự mặc", tất cả đều phải nhờ do cha mẹ khổ công nuôi nấng)".[22]

Lễ phải bắt nguồn từ sự tôn trọng chân thành của người hành lễ đối với người nhận lễ thì mới có giá trị. Khổng Tử nói: "Một người không có lòng nhân sao có thể hành được lễ ?[24]". Khổng Tử phê phán những lễ nghi hình thức giả dối. Ông nói "Người đời trước đối với lễ nhạc, coi trọng phối hợp thích đáng giữa nội dung và hình thức thì bị coi là lạc hậu quê mùa. Người đời sau đối với lễ nhạc, coi trọng hình thức hơn nội dung thì lại bảo là người quân tử. Nếu sử dụng lễ nhạc, ta tình nguyện đi theo các bậc tiền bối.[25]". Trái với tập quán của người đời thích những lễ nghi phô trương để chứng tỏ sự giàu sang, quyền lực của bản thân, khi được hỏi về gốc của lễ, Khổng Tử trả lời: "Vấn đề của ngươi hỏi thật quá lớn! Lễ nói chung đi kèm với xa hoa lãng phí thì không bằng tiết kiệm. Nghi thức mai táng mà cầu kỳ, lòe loẹt thì không bằng trong lòng thật sự đau buồn.[26]".

Trong các loại lễ nghi, hai lễ nghi phổ biến nhất, từ đấng quân vương cho đến kẻ thứ dân ai cũng thực hiện, được Nho giáo rất xem trọng là tang lễ và việc cúng tế tổ tiên. Tăng Tử nói: "Phải cẩn thận làm tốt tang lễ cho cha mẹ khi qua đời; thành tâm, thành ý khi cúng tế tổ tiên. Được như vậy, dân chúng được cảm hóa, phong tục đạo đức của dân chúng ngày một tốt đẹp và thuần hậu.[27]". Ngày nay, tại các nước Đông Á tang lễ và cúng tế tổ tiên vẫn là các lễ nghi quan trọng nhất, được tổ chức chu đáo nhất. Việc không tổ chức các lễ nghi này, không tham dự hoặc làm qua loa có thể bị xem là bất kính.


Quan hệ xã hội[sửa | sửa mã nguồn]


Theo Nho giáo, trong xã hội có 5 mối quan hệ cơ bản là: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn bè. Để thực hiện tốt 5 mối quan hệ này cần có 3 đức tính: trí, dũng, nhân.[28]

Trong các mối quan hệ xã hội, con người phải đối xử tốt với người khác, "mình không muốn bị người khác đối xử thế nào thì cũng không nên đối xử với người khác như vậy"[29]. Người chỉ biết làm việc vì lợi ích của mình nhất định sẽ chuốc lấy nhiều oán hận[30]. Đối với người lãnh đạo thì càng phải ghi nhớ và thực hành điều này, như sách Đại Học viết "Người quân tử phải hiền hòa, nhân đức, yêu thích điều dân yêu thích, ghét điều dân ghét. Đó mới gọi là làm cha mẹ của dân.[31]". Nhân chi sơ, tính bổn thiện vì vậy mỗi người hãy đối nhân xử thế phù hợp với tính thiện trời ban cho mình, xử thế phải hết sức cẩn thận, chu toàn, thành thật. Sách Trung Dung viết "Phải hết sức răn mình cẩn thận về những điều không ai nhìn thấy, e sợ những việc không ai nghe thấy. Không gì dễ hiện ra bằng điều giấu giếm, không gì dễ lộ ra bằng điều nhỏ nhặt. Cho nên người quân tử khi xử thế một mình, từ lời ăn tiếng nói đến việc làm cụ thể càng phải cẩn thận, chu đáo hơn bao giờ hết.[32]". Trong quan hệ vua tôi, Khổng Tử chủ trương "Vua sử dụng bề tôi phải theo lễ, bề tôi phụng thờ vua phải theo trung.[33]". Nho giáo đề cao sự trung thành đối với nhà nước quân chủ vì đó là nhân tố góp phần vào sự ổn định của xã hội. Khổng Tử nói "... Vua Vũ vương được hai phần ba thiên hạ, vẫn giữ khí tiết của một trung thần phụng thờ triều Ân. Đức của vua Vũ vương có thể nói là đức cao quý nhất.[34]".

Trong mọi hoàn cảnh, con người cần kiềm chế cảm xúc, làm chủ bản thân, không biểu hiện cảm xúc ra ngoài một cách thái quá, đó gọi là trung hòa. Biết trung hòa cảm xúc thì con người ta mới cư xử đúng mực. Sách Trung Dung viết "Khi tình cảm như: vui mừng, hờn giận, đau thương, khoái lạc chưa biểu hiện ra thì gọi là trung; biểu hiện ra rồi nhưng phù hợp, đúng mức thì gọi là hòa. Trung là điều cơ bản lớn nhất trong thiên hạ. Hòa là chuẩn tắc phổ biến nhất trong thiên hạ. Trung hòa mà đạt đến tột cùng thì mọi cái trong trời đất đều ở vị trí thỏa đáng, vạn vật sẽ sinh sôi nảy nở.[35]"

Nho giáo quan niệm Trung dung là sự ôn hòa, cân bằng, không thái quá, không thiên lệch về bên này hoặc bên kia. Trong đối nhân xử thế, Trung dung là không quá cương cũng không quá nhu, không thái quá cũng không bất cập. Trong chính trị, Trung dung là không quá khích, cực đoan; không cực tả cũng không cực hữu, không nhảy từ thái cực này sang thái cực kia: "Lời nói và việc làm của người quân tử thì phù hợp với chuẩn tắc trung dung, còn kẻ tiểu nhân thì phản lại trung dung. Người quân tử luôn giữ được trạng thái trung hòa, không để thái quá hay bất cập. Kẻ tiểu nhân thì không hề lo sợ, nể nang hay e dè ai hết, nên cách nói năng của và hành động của kẻ tiểu nhân không thái quá thì cũng bất cập.[36]". Đạo Trung dung không chỉ dành cho nhà cầm quyền, người có học thức, bậc quân tử mà phổ biến khắp thiên hạ, ai ai cũng có thể hiểu và thi hành kể cả những người ngu dốt, nhưng để đạt đến mức độ cao sâu thì thánh nhân cũng chưa làm nổi: "Đạo sở dĩ không được thực hành, ấy là vì người thông minh có trí tuệ thì nhận thức và thực hành thái quá, người kém hiểu biết thì nhận thức bất cập...[37]... Đạo của người quân tử vừa to lớn bao la, vừa vô cùng nhỏ bé. Những người ngu dốt kém cỏi cũng có thể hiểu và làm theo được, nhưng đạt tới chỗ cao sâu nhất thì đến thánh nhân cũng có điều chưa thể làm nổi.[38]".

Để giữ được đạo Trung dung, con người vừa phải sống hòa đồng với mọi người vừa phải có tư duy độc lập, luôn giữ chính kiến của mình, luôn giữ đạo Trung dung, không bị lôi cuốn theo đám đông, không bị hoàn cảnh lung lạc. Đây là sức mạnh chân chính của người quân tử:


"Người quân tử sống hòa khí với mọi người, nhưng không buông trôi theo thói tục của người đời. Giữ trọn đạo Trung dung, không hề thiên lệch bên nào, khi quốc gia yên ổn cũng như khi loạn lạc, có chết cũng không thay đổi chí hướng của mình, đấy mới là sức mạnh chân chính.[39]". Khổng tử nói "Người quân tử phải theo đạo mà đi, không được nửa đường thì bỏ dở. Người quân tử chỉ một lòng theo đạo Trung dung mà thôi. Còn như phải trốn đời ở ẩn nơi rừng sâu núi thẳm cũng không hối hận, chỉ có thánh nhân mới làm được như vậy."[40]".

Tuy nhiên, người đời vô minh, không nhận thức được tính chất minh triết, tốt đẹp của đạo Trung dung nên luôn hành động thái quá hay bất cập khiến xã hội hỗn loạn, suy đồi, xung đột nảy sinh; tạo ra vô số bi kịch trong cuộc sống đời thường cũng như trong đời sống chính trị. Khổng Tử từng than thở "Đạo Trung dung này rất mực tốt đẹp. Từ lâu dân chúng đã thiếu hẳn đạo này.[41]".

Khổng Tử nói "Người quân tử hòa hợp nhưng không cùng quan điểm. Kẻ tiểu nhân cùng quan điểm nhưng không hòa hợp. (Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa)".[42] Điều này cho thấy Nho giáo nguyên thủy đề cao tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, chấp nhận sự khác biệt. Nếu thiếu khả năng chấp nhận sự khác biệt, con người rất dễ nảy sinh xung đột với nhau. Sự hiểu lầm cũng có thể dẫn đến xung đột. Khi bị người khác hiểu lầm thì không nên oán giận họ vì sẽ làm xung đột càng trầm trọng hơn. Khổng Tử nói: "Người không hiểu ta mà ta chẳng oán giận họ, như vậy không phải là người quân tử ư?[43]", "Không sợ người không hiểu ta mà chỉ sợ ta không hiểu người.[44]". Khi xảy ra mâu thuẫn, xung đột, nếu biết khoan dung, tha thứ cho những lỗi lầm của người khác; những thiệt hại, khổ đau người khác gây ra cho mình thì thù hận sẽ chấm dứt. Ngược lại nếu tìm mọi cách trả thù thì thù hận kéo dài không bao giờ chấm dứt. Khổng Tử nói "Bá Di, Thúc Tề, hai người này thường cho qua những thù hận cũ nên người oán hận họ rất ít.[45]". Kinh Pháp Cú của Phật giáo cũng có ý tương tự "Với hận diệt hận thù, đời này không có được. Không hận diệt hận thù, là định luật ngàn thu."[46].

Trong xã hội có nhiều hạng người: người giàu, người nghèo, người lãnh đạo, người thừa hành... Nho giáo khuyên con người nên làm việc theo chức trách, có cách sống phù hợp với hoàn cảnh và địa vị xã hội của mình. Ai làm như vậy sẽ luôn thấy thoải mái, không so đo mình với người khác cũng không nảy sinh bất mãn. Nghèo mà không oán hận là rất khó làm. Giàu mà không kêu ngạo là rất dễ làm.[47] Người thích dũng cảm mà lại căm ghét sự nghèo hèn của mình thì rất dễ làm loạn[48]. Sách Trung Dung viết: "Người quân tử nên dựa vào địa vị hiện tại của mình mà làm việc, không nên ham những cái ngoài bổn phận của mình... Người quân tử ở bất kỳ hoàn cảnh nào đều có thể điềm nhiên tự tại, bình tĩnh tự đắc, không kêu ca phàn nàn.[49]". Theo Nho giáo, mỗi người làm trọn chức phận của mình, sống có đạo đức thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp. Bản thân chưa tốt mà muốn mọi người xung quanh mình tốt, muốn người cai trị mình tốt, muốn xã hội tốt là điều không tưởng. Nếu mỗi người không cố gắng hoàn thiện bản thân, sống có đạo đức, tuân thủ luật pháp, làm tốt công việc của mình mà chỉ nhìn thấy nhược điểm, sai lầm, tệ hại của người khác rồi nảy sinh bất mãn, hận thù thì xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh. Vua Tề Cảnh Công hỏi về việc cai trị quốc gia, Khổng Tử thưa "Làm vua phải trọn đạo vua, làm tôi phải trọn đạo tôi, làm cha phải trọn đạo cha, làm con phải trọn đạo con". Vua Tề Cảnh Công nói "Nói như vậy hay quá ! Nếu vua chẳng trọn đạo vua, tôi chẳng trọn đạo tôi, cha chẳng trọn đạo cha, con chẳng trọn đạo con thì tuy có lúa gạo đó ta có thể ăn được ư".[50]"

Mỗi người đều có vị trí riêng trong hệ thống phân công lao động xã hội phù hợp với năng lực, trí tuệ và hiểu biết của mình. Những người ở địa vị cao phải trải qua quá trình học tập, rèn luyện, thử thách, va chạm lâu dài; từng thành công và thất bại nhiều lần mới đảm nhận được chức trách mà họ đang nắm giữ. Người lãnh đạo cấp cao có đội ngũ cố vấn, giúp việc có trình độ nên mới xử lý nổi những vấn đề trong phạm vi trách nhiệm của họ. Nếu mỗi người không tập trung làm tốt phận sự của mình mà cứ lo những chuyện vượt quá tầm hiểu biết, khả năng nhận thức, năng lực và trách nhiệm của mình thì chỉ dẫn xã hội đến hỗn loạn. Khổng Tử nói "Không ở vào chức vị nào thì đừng bàn tính về chính sự của chức vị ấy.[51]". Chính vì thế, con người nên gắng làm tốt công việc hiện tại của mình chứ không cần phải theo đuổi, cầu cạnh chức tước, địa vị. Việc thăng tiến là điều tự nhiên nếu người đó làm tốt. Kẻ tiểu nhân ngược lại luôn theo đuổi hư danh, địa vị ngoài khả năng của mình. Sách Trung Dung viết "Khi ở địa vị cao, không lăng mạ chèn ép người dưới; khi ở địa vị dưới, không nịnh bợ cầu cạnh người trên; lúc nào cũng giữ bản thân ngay thẳng, chẳng cầu mong xin xỏ người khác, được như vậy thì trên không oán trời, dưới không trách người, luôn ở địa vị ổn định để chờ mệnh trời. Còn kẻ tiểu nhân buộc phải mạo hiểm để theo đuổi chức vụ, địa vị ngoài khả năng của mình.[52]". Tử Hạ nói "Người quân tử chỉ cần làm việc nghiêm túc cẩn thận, đối xử với người cung kính lễ độ, thì người bốn biển đều là anh em.[53]".

Theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì con người sống trong xã hội không nên tranh chấp vì danh lợi. Điều đáng để mọi người thi đua là sống sao cho hợp đạo lý, đối xử nhau sao cho có tình có lý, có lễ nghĩa. Khổng Tử nói: "Người quân tử không việc gì phải tranh đua. Nếu có việc đáng tranh đua thì chỉ có ở cuộc thi bắn cung. Khi đọ tài bắn cung cũng phải giữ lễ, vái chào lẫn nhau trước rồi sau đó mới bắn cung. Bắn cung xong ngồi nâng chén chúc mừng lẫn nhau. Đây là điều đáng tranh đua của người quân tử.[54]". Khi chưa có chức vụ, địa vị thì "Không sợ buồn vì không có chức vụ địa vị, chỉ buồn vì không có tài đức để làm tròn chức vụ địa vị ấy. Không sợ người khác không biết mình, mà phải cầu mong làm sao có năng lực làm cho người khác hiểu mình.[55]". Nếu hoàn cảnh sống, chức tước, địa vị không được như ý thì phải xem lại bản thân mình chứ không nên trách trời, oán người hay đổ lỗi cho nhà nước. Khổng Tử nói:


"Phép bắn cung cũng giống như đạo người quân tử vậy. Khi bắn mũi tên không trúng đích, phải trở lại tìm nguyên nhân ở chính bản thân mình.[52]"... người có chức lớn tất có địa vị, danh tiếng xứng đáng và hưởng thọ lâu dài... người có đức lớn, nhất định được trời ban cho chức vụ để làm việc có ích cho đời.[56]".

Trong tất cả mọi mối quan hệ xã hội như với cha mẹ, với cấp trên, với bạn bè, Nho giáo rất đề cao sự thành thật. Người thành thật sẽ được mọi người tin cậy. Con người trước hết phải thành thật với bản thân mới có thể thành thật với mọi người. Theo sách Trung Dung "Muốn bản thân thành thật cũng có cách của nó: nếu không hiểu rõ thế nào là đức thiện, tính thiện thì cũng không thể bồi dưỡng cho mình có lòng thành thật với bản thân.[57]". Theo Nho giáo, có một số người vốn dĩ tự nhiên đã thành thật, một số khác phải rèn luyện bản thân để trở nên thành thật: "Thành thật tự nhiên vốn là đạo trời. Còn tự mình nỗ lực đạt đến thành thật là đạo người. Bậc thành thật tự nhiên không phải cố gắng cũng tự nhiên thích hợp với đạo, không phải suy nghĩ cũng hiểu được đạo, cứ ung dung mà hợp với đạo trung dung, đó là bậc thánh nhân. Còn người tu tập để đạt tới thành thật thì phải chọn lấy điều thiện mà kiên trì theo đuổi. Muốn vậy, phải học tập cho sâu rộng, hỏi han cho kỹ lưỡng, suy nghĩ cho thận trọng, phân biệt cho sáng tỏ, thực hành cho thấu đáo."[57]. Muốn đạt đến thành thật thì "Đối với việc nhỏ mà dám bỏ công sức học hỏi, suy nghĩ, xem xét và thi hành đạo lý thì cũng xem như đã đạt đến thành thật. Có lòng thành thật thì sẽ biểu hiện ra ngay. Hiện rõ ra rồi thì sẽ sáng chói. Sáng chói thì sẽ cảm động đến lòng người."[58]. Theo sách Trung Dung, người đã đạt đến đức thành thật cao cả thì "dẫu không biểu hiện ra mà vẫn sáng rõ, dẫu không động mà vẫn biến hóa, dẫu không làm mà cũng thành công.[59]". Việc nịnh hót người khác, giả bộ hiền lành, cung kính thái quá, đem oán hận giấu kín trong lòng nhưng bề ngoài vẫn giả bộ hữu hảo bị Nho giáo đánh giá là hành vi xấu. Khổng Tử nói:


"Dùng những lời lẽ hay ho để nịnh hót, làm vừa lòng người và tỏ vẻ hiền lành, như vậy không phải là người có lòng nhân.[60]"... "Những người dùng lời lẽ trau chuốt ngọt xớt, giả bộ hiền lành, cung kính thái quá, loại người này theo Tả Khâu Minh là rất đáng sỉ nhục. Khâu ta cũng cho là rất đáng sỉ nhục. Đem oán hận giấu kín ở trong lòng nhưng bề ngoài vẫn giả bộ hữu hảo với người, loại người như vậy Tả Khâu Minh cũng cho là đáng sỉ nhục. Khâu ta cũng cho là đáng sỉ nhục.[61]:

Tuy nhiên, người đời lại thích những lời ngọt ngào, giả dối. Sự thật thì khó nghe và dễ làm mất lòng người. Khổng Tử nói "Nếu không có mồm mép nói dễ nghe như Chúc Đà và vẻ đẹp như công tử Triều nước Tống thì đời nay khó mà tránh được người ta ghét bỏ, xa rời.[62]". Vì vậy phải làm sao giữ được sự thành thật mà vẫn không làm mất lòng người, không bị đánh giá là thô lỗ, thiếu tế nhị. Đó là nghệ thuật ứng xử cần khổ công rèn luyện. Khổng Tử nói "Chất phác mà bỏ qua văn vẻ thì thô tục. Văn vẻ mà bỏ qua chất phác thì phù phiếm. Văn vẻ và chất phác hài hòa với nhau mới là người quân tử.[63]". Nếu làm được như vậy có thể sống ngay thẳng giữa cuộc đời. Khổng Tử nói "Con người ta sống được là nhờ ngay thẳng. Kẻ không ngay thẳng tuy nhiên cũng sống được, nhưng chẳng qua nhờ may mắn mới tránh được tai họa đó thôi.[64]". Người ngay thẳng không sợ bị kẻ khác hãm hại, cây ngay không sợ chết đứng. Khi quan tư mã nước Tống là Hoàn Đồi âm mưu giết Khổng Tử bằng cách chặt cây mà ông thường ngồi dạy học trò về đạo làm người, Khổng Tử nói "Trời đã phú cho ta phẩm đức, Hoàn Đồi kia còn có thể làm gì được ta ?[65]".

Trong quan hệ bạn bè, Tăng Tử nói "Người quân tử dùng tri thức văn chương để tập hợp bạn bè, dùng sự giúp đỡ của bạn bè để bồi dưỡng nhân đức"[66]. Tử Cống hỏi về cách đối đãi với bạn bè. Khổng Tử nói "Thành tâm thành ý khuyên bạn, nhẫn nại chỉ rõ mọi điều hơn lẽ thiệt, mà bạn vẫn không nghe thì thôi, đừng tự mình chuốc lấy nhục nhã"[67].

Tử Trương hỏi về sự sáng suốt, Khổng Tử trả lời "Những lời gièm pha nói xấu ngấm dần, cũng như những lời vu cáo đau nhức đến tận da thịt đều không làm ảnh hưởng gì đến mình, được như vậy có thể nói là người sáng suốt, nhìn xa trông rộng[68]". Tử Trương lại hỏi cách thức để phân biệt sự mê hoặc "Yêu ai thì mong cho họ sống, ghét ai thì mong cho họ chết. Vừa mong cho người này sống lại muốn cho người khác chết, như vậy là sự mê hoặc[69]". Người khôn ngoan là người hành động hợp tình, hợp lý, hợp nghĩa, đúng nơi, đúng lúc. Công Minh Giả nói về Công Thúc Văn Tử "Công Thúc Văn Tử chỉ nói lúc đáng nói nên người ta nghe mà không chán, khi vui mới cười nên người ta thấy cười mà không chê, của hợp nghĩa mới nhận nên người ta thấy nhận mà không khinh bỉ"[70].

Khi đánh giá người khác, đừng đánh giá qua lời nói mà hãy đánh giá qua hành động của người đó. Khổng Tử nói: "Nhìn kỹ cách người ta làm, xét người ta làm vì cái gì, rồi xét kỹ người ta có vui lòng mà làm hay không. Như vậy người ta không có cái gì có thể giấu được, làm sao mà giấu được ?[71]". Mỗi người hãy chứng tỏ bản thân mình bằng việc làm chứ không phải bằng lời nói. Như vậy mới là người quân tử. Tử Cống hỏi: "Thế nào là người quân tử ?". Khổng Tử nói: "Trước hết thực hành lời mình nói đã, sau mới nói ra."[72]. Năng lực mỗi người khác nhau nên không thể đòi hỏi kết quả giống nhau được. Chỉ cần người đó toàn tâm, toàn ý là được. Khổng Tử nói: "Thi bắn cung, không nhất thiết phải xuyên qua bia, bởi vì sức lực của mỗi người không giống nhau, đây là quy tắc bắn cung thời cổ.[73]".

Trong xã hội không ai hoàn hảo. Từ người lãnh đạo cao nhất cho đến người dân bình thường đều có thể mắc sai lầm. Sai lầm của người lãnh đạo nếu không bị chỉ ra có thể biến thành sai lầm của tập thể hoặc cả một quốc gia. Vua Lỗ Định Công hỏi "Một lời nói có thể làm cho nước suy bại có phải vậy không ?". Khổng Tử trả lời "Lời nói chưa thể có hiệu quả nhanh như vậy. Nhưng cũng đã có người từng nói: 'Ta làm vua chẳng có gì sung sướng, chỉ sướng là khi ta nói ra không có ai dám trái lời'. Nếu vua nói phải không có ai phản đối, như vậy không phải là tốt quá sao ? Nhưng nếu vua nói không phải mà chẳng có ai phản đối, đây chẳng phải giống như một lời nói có thể làm cho mất nước đó sao ?"[74]. Sai lầm có thể bị che giấu khiến nó ăn sâu vào đời sống xã hội, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính vì thế muốn xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, tránh được những hậu quả tiêu cực do sai lầm của con người gây ra thì sai lầm của cá nhân hoặc cộng đồng phải được phơi bày ra ánh sáng để người mắc sai lầm, những người khác và các thế hệ tương lai thấy để sửa sai và tránh lặp lại. Ở đâu thiếu minh bạch, ở đó cái xấu, cái ác sẽ sinh sôi nảy nở và ngày càng lớn mạnh. Khổng Tử nói: "Dám mạnh dạn đấu tranh, phê bình, chỉ trích tệ hại, thói hư tật xấu thì tự nhiên họa hại sẽ tiêu tan.[75]".

Tuy nhiên việc phê bình, góp ý người khác cũng cần tinh tế để ý kiến đóng góp được tiếp thu mà người nghe cũng không khó chịu hoặc cảm thấy bị xúc phạm. Phải biết kết hợp giữa khen và chê vì ai cũng có ưu điểm và nhược điểm. Nếu chỉ thấy nhược điểm của một người rồi tìm mọi cách phê bình, chỉ trích mà lờ đi ưu điểm của người đó là cách đối xử thiếu tế nhị thậm chí là ác ý. Tử Du nói: "Phụng thờ vua nếu chỉ biết luôn can gián vua thì sẽ chuốc lấy nhục nhã. Đối đãi với bè bạn, nếu cứ luôn luôn góp ý kiến cho bạn thì bạn sẽ xa mình.[76]". Ngược lại, người mắc sai lầm cũng phải dũng cảm, cầu thị nhận sai lầm và sửa sai. Khổng Tử nói "Lời nói đúng đắn có thể không tiếp thu ư ? Nhưng chỉ tiếp thu chưa đủ, mà còn phải sửa chữa sai lầm nữa mới là điều đáng quý. Lời nói mềm dẻo, nhẹ nhàng, từ tốn thì có thể không vui sướng chăng ? Nhưng chỉ vui sướng chưa đủ, mà còn phải suy nghĩ mới là điều đáng quý. Chỉ biết vui sướng mà không biết suy nghĩ, chỉ biết tiếp thu mà không chịu sửa chữa, loại người như vậy ta chẳng còn cách nào nữa.[77]". Một lần có người chỉ ra sai lầm của Khổng Tử, ông nói "Ta thật may mắn, giả dụ có sai lầm thì người ta cũng biết được"[78].

Nho giáo cũng phê phán tệ bè phái, chia rẽ trong xã hội, xem tinh thần đoàn kết là một phẩm chất đạo đức của người quân tử còn óc bè phái là đặc tính của kẻ tiểu nhân. Khổng Tử nói: "Người quân tử đoàn kết rộng rãi với mọi người, chứ không phải chỉ câu kết phe cánh. Kẻ tiểu nhân chỉ biết câu kết phe cánh, chứ không biết đoàn kết rộng rãi với mọi người.[79]".


Thuật lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]


Nho giáo chủ trương: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (Dân là quý nhất, rồi đến đất nước, cuối cùng mới là vua)". Người lãnh đạo chân chính phải xem việc cai trị thiên hạ là bổn phận, trách nhiệm của mình chứ không phải vì lợi ích cá nhân hay là thứ giúp bản thân mình trở nên cao quý. Khổng Tử nói "Cao quý thay vua Thuấn và vua Vũ! Được cả thiên hạ mà vẫn cảm thấy việc này không có gì đáng vui hoặc kiêu hãnh cả.[80]". Đây là một tư tưởng rất mới mẻ trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành. Vua không có quyền coi nhân dân là của riêng mà phải lo cho dân và vì dân. Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành. Chủ trương chính trị của Nho giáo vào thời kỳ đó rất táo bạo nhưng rất hợp lý, làm cho nền quân chủ thời đó cũng như các nền chính trị thời nay cũng không thể nào bắt bẻ được.

Nho giáo xem nhân dân là yếu tố quyết định đối với sự tồn vong của chế độ chính trị. Nếu một nhà nước nhận được sự ủng hộ của nhân dân thì vững bền, nếu mất lòng dân thì sụp đổ. Sách Đại học viết:


"Kinh Thi có câu: Khi nhà Ân chưa để mất lòng dân thì còn xứng đáng để thụ mệnh thiên tử. Nên soi vào tấm gương của nhà Ân để biết rằng, giữ được thiên hạ không phải là dễ. Đây là muốn nói đạo trị dân: nếu được lòng dân là được nước, mất lòng dân là mất nước.[31]".

Tử Cống hỏi Khổng Tử về quản lý chính sự quốc gia. Khổng Tử nói "Phải đầy đủ lương thực, đầy đủ binh lực, được nhân dân tín phục". Nếu bỏ đi hai trong ba điều thì có thể bỏ binh lực rồi đến lương thực nhưng nếu nhân dân không tín phục nữa thì nước không thể đứng vững nổi.[81] Muốn có được sự tín phục của nhân dân nhà cầm quyền phải biết đặt lợi ích của dân lên trên lợi ích bản thân. Hữu Nhược nói "Nếu dân đủ ăn thì vua làm sao lại không đủ ? Nếu dân không đủ ăn thì vua làm sao mà đủ được ?"[82].

Muốn giữ được lòng dân, giữ vững chế độ thì người lãnh đạo phải có đức thiện vì "có đức thiện mới có được mệnh trời, nếu không có đức thiện thì sẽ mất mệnh trời ngay[83]". Chính vì thế "Làm người cai trị quốc gia không thể không cẩn thận. Nếu để sơ suất một phân ly, không noi theo khuôn phép, tất sẽ bị nhân dân loại bỏ ngay.[31]"... lãnh đạo phải có sự chuẩn bị thì mới thành công, không chuẩn bị sẽ thất bại. Nếu chuẩn bị thì nói không vấp váp, làm không khó khăn. Nếu có phép tắc thì hành động không mắc sai lầm, việc hành đạo luôn thông suốt.[84]". Khổng Tử nói: "Quản lý, lãnh đạo một quốc gia có nghìn cỗ xe phải xử lý nghiêm túc, cẩn thận, chu đáo tất cả mọi công việc, phải đặc biệt giữ điều tín với dân, tiết kiệm chi tiêu, yêu mến dân, sử dụng sức dân trong thời gian thích hợp.[85]". Người lãnh đạo cẩn thận trong mọi việc nhưng cũng cần quyết đoán để không đánh mất thời cơ. Quý Tử Văn làm việc gì đều nghĩ đi nghĩ lại rất nhiều lần. Khổng Tử nghe vậy nói "Nghĩ hai lần là đủ rồi".[86]

Nho giáo xem tư cách, đạo đức con người luôn quan trọng hơn tài sản. Ở tầm vóc quốc gia, nhân nghĩa mới thật sự là lợi ích chứ không phải của cải vật chất. Người lãnh đạo phải coi trọng nhân nghĩa, đặt nhân nghĩa lên trên cái lợi trước mắt thì xã hội mới ổn định. Xã hội ổn định thì quốc gia phát triển, quốc khố mới được sung túc. Sách Đại Học viết:


"Người nhân dùng của cải của mình để hoàn thiện phẩm đức. Kẻ bất nhân dùng sinh mệnh của mình để vơ vét thêm của cải. Chưa từng có bậc vua nào yêu điều nhân mà dân chúng lại không yêu điều nghĩa. Chưa từng có người nào hiểu điều nghĩa mà lại làm việc không hết lòng... Điều này nói lên rằng: người trị quốc không nên xem tài sản là vốn quý, mà nên xem nhân nghĩa là vốn quý.[87]".

Người lãnh đạo quốc gia hoặc tổ chức luôn là tấm gương để cấp dưới và dân chúng noi theo. Người lãnh đạo có đạo đức tốt thì cấp dưới, nhân dân mới noi gương tu dưỡng đạo đức. Ngược lại, thượng bất chính, hạ tất loạn - Cấp trên không quang minh chính đại, không tuân thủ nguyên tắc, vi phạm luật pháp, có hành động vô đạo thì cấp dưới và quần chúng cũng bắt chước làm bậy. Khổng Tử nói "Nếu có thể sửa mình ngay thẳng thì lãnh đạo quốc gia có khó gì ? Không sửa được mình ngay thẳng làm sao có thể làm cho người khác ngay thẳng ?"[88]. Nước Lỗ rất nhiều trộm cướp, Quý Khang tử lo lắng hỏi Khổng Tử về cách giải quyết. Khổng Tử nói "Nếu ngài không quá tham lam thì có ban thưởng cho họ, họ cũng không dám ăn trộm nữa[89]". Quý Khang tử hỏi Khổng Tử về vấn đề quản lý chính sự rằng "Giết kẻ vô đạo để dân biết mà tiến tới có đạo làm như vậy có được không ?". Khổng Tử nói "Ngài quản lý quốc gia cần gì đến việc chém giết ? Ngài thực sự làm điều thiện, dân sẽ làm điều thiện. Đức hạnh người quân tử giống như gió, đức hạnh kẻ tiểu nhân giống như cỏ. Gió thổi trên cỏ, cỏ nhất định rạp theo chiều gió[89]". Lần khác Quý Khang tử lại hỏi Khổng Tử về quản lý chính sự, Khổng Tử nói "Ý nghĩa chữ chính là chính trực. Ngài gương mẫu giữ đạo chính thì ai không dám chính ?[90]".

Sách Đại Học có đoạn viết "Nếu người trên có hiếu với cha mẹ, tôn trọng bậc huynh trưởng, thật lòng thương xót kẻ côi cút cô đơn góa bụa, thì nhân dân cũng tự mà noi theo như vậy. Người quân tử phải nắm vững đạo noi theo khuôn phép này.".[91]... "Vua Nghiêu, vua Thuấn dùng nhân ái để quản lý thiên hạ, nhân dân theo đó mà làm thiện. Vua Kiệt, vua Trụ dùng bạo lực để quản lý thiên hạ, dân chúng cũng theo đó mà làm loạn. Ra lệnh cho dân chúng thực hành nhân ái nhưng mình lại tàn bạo, thì dân nhất định chẳng nghe theo. Người quân tử, trước hết nên yêu cầu mình làm thiện và tránh làm ác, sau đó mới răn dạy người khác.[92]". "Người bề trên ngay thẳng, dù không ra lệnh, người dưới vẫn làm theo. Người bề trên không ngay thẳng, tuy có mệnh lệnh rất nghiêm, người dưới cũng chẳng theo.[93]". Người lãnh đạo có đạo đức thì không cần ban thưởng, mọi người đều tín nhiệm, tin theo khiến thiên hạ thái bình, vô sự. Khổng Tử nói: "Cầm quyền lãnh đạo quốc gia cần phải dựa vào đạo đức thì dân chúng đều quy thuận. Tự mình giống như sao Bắc Đẩu vậy, ở cố định một nơi còn các sao khác đều chầu quay quanh nó.[94], không cần ban thưởng mà dân chúng vẫn cảm thấy như được động viên, được cảm hóa, đua nhau làm theo điều thiện; không cần phẫn nộ mà dân chúng vẫn đã kính sợ hơn cả hình phạt bằng búa rìu... người quân tử giữ mình một cách thành thật, thì tự nhiên thiên hạ sẽ thái bình vô sự.[95]". "Người xưa bảo nếu bậc thiện nhân nối nhau trị nước, sau một trăm năm có thể cảm hóa kẻ tàn bạo thành lương thiện, không cần gì đến hình phạt chém giết nữa."[96]. Tử Lộ hỏi về quản lý chính sự. Khổng Tử nói "Tự mình làm gương cho dân noi theo. Chịu khó nhọc cùng những công việc khó nhọc của dân". Tử Lộ xin Khổng Tử dạy thêm, Khổng Tử giảng tiếp "Phải bền bỉ, không được mỏi mệt".[97] Đó là nghệ thuật lãnh đạo chân chính có thể áp dụng từ tổ chức nhỏ nhất cho đến cấp độ quốc gia. Khổng Tử nói: "Nếu gào thét và nghiêm sắc mặt để giáo hóa dân chúng đó là hạ sách, là điều ngọn vậy.[98]" vì "có thể cướp cờ, đoạt tướng giữa ba quân, nhưng không thể cướp đoạt được chí khí của một người dân bình thường.[99]".


Vua Hạ Kiệt bị Nho giáo coi là bài học điển hình cho việc mất nước vì tàn bạo

Chính vì vậy Nho giáo là một học thuyết chính trị đề cao Nhân trị. Dù hình thức chính trị, tổ chức nhà nước, hệ thống luật pháp có hoàn hảo đến mức nào mà người lãnh đạo thiếu đạo đức, không vì dân thì dân cũng chịu khổ, xã hội hỗn loạn. Dù hình thức chính trị lỗi thời, tổ chức nhà nước không chặt chẽ, luật pháp thiếu sót mà nhà cầm quyền có phẩm hạnh tốt, biết tôn trọng và hết lòng vì dân thì dân vẫn tin tưởng, xã hội ổn định. Sách Đại Học có câu:


"Đức là gốc, tài sản là ngọn. Nếu như bỏ gốc mà lấy ngọn, thì sẽ tranh lợi với dân, cướp bóc dân. Nếu ở trên phản lại lòng dân, chỉ biết phát ra những mệnh lệnh trái lẽ, chỉ lo tích tụ tài sản châu báu ngọc ngà, thì dân chúng sẽ đối xử lại bằng những điều phản nghịch, khiến cho triều đình ngày một khánh kiệt".[83]".

Việc cai trị bằng nhân nghĩa, bằng cách giáo dục quần chúng để họ tự giác sẽ tốt hơn dùng hình pháp ép buộc người dân tuân thủ luật pháp. Khổng Tử nói: "Dùng mệnh lệnh pháp luật để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân thì dân sẽ hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, sẽ cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ tư tưởng.[100]". Khi muốn người dân làm điều gì đó, nếu dân đồng ý thì để cho họ làm, nếu dân không đồng ý thì phải giảng giải cho họ hiểu chứ không cưỡng ép họ[101]. Khi quan hệ giữa con người trong xã hội tốt đẹp thì không cần đến sự can thiệp của luật pháp. Khổng Tử nói: "thẩm tra xét xử công án thì năng lực của ta cũng như người khác thôi. Điều mà ta mong muốn tâm đắc là người ta đừng có đi kiện tụng nữa. Phải để cho những kẻ giấu giếm sự thật không dám khua môi múa mép, không dám cậy thế đè người, ức hiếp hãm hại người hiền; khiến cho dân chúng hoàn toàn tâm phục. Thế mới gọi là hiểu được cái gốc của đạo lý.[102]. Đây là quan niệm cai trị mang tính nhân bản của Khổng Tử tuy rằng trên thực tế đến ngày nay lý tưởng của ông nhân loại vẫn chưa thực hiện được bao nhiêu. Để thi hành Nhân trị khiến dân kính trọng, trung thành với nhà nước và tự động viên nhau làm điều tốt thì nhà cầm quyền phải "Có thái độ nghiêm túc, đoan chính đối với mọi việc của dân chúng thì dân chúng kính trọng. Hiếu thuận với cha mẹ, hiền từ với già trẻ, gái trai thì dân chúng sẽ trung thành. Sử dụng cất nhắc người tốt, giáo dục người không có năng lực thì dân chúng sẽ tự động viên, cổ vũ nhau làm điều tốt.[103]". "Nếu có bậc thánh nhân chịu mệnh trời mà cai trị thiên hạ thì cũng phải sau ba chục năm mới thực hiện được nhân chính"[104].

Người lãnh đạo không cần phải biết làm những việc cụ thể của dân hay của những nhà chuyên môn dưới quyền mà chỉ cần có đạo đức, biết cách đối nhân xử thế, biết cách lấy lòng người để thu hút sự ủng hộ của dân chúng và người tài trong thiên hạ. Khổng Tử nói "Người bề trên coi trọng lễ thì dân chẳng ai dám coi thường, khinh mạn. Người bề trên coi trọng nghĩa thì dân chẳng ai dám không phục tùng. Người bề trên coi trọng chữ tín thì dân chẳng ai dám giả dối. Nếu làm được như vậy thì dân bốn phương nhất định cõng con đến theo mình hết. Cần gì mình phải học việc trồng cấy ?".[105] Diệp Công là quan huyện nước Sở hỏi về quản lý chính sự. Khổng Tử nói "Khiến cho người ở gần vui lòng, khiến cho người ở xa đến quy phục"[106].

Người lãnh đạo phải có học vấn mới thực hiện tốt công việc của mình. Khổng Tử phản đối quan niệm của học trò ông là Tử Lộ "Làm quan thì có dân để cai trị, có thần xã tắc để tế lễ, không cần phải chọn kẻ có học làm huyện trưởng, sau làm mới là học.[107]". Người lãnh đạo còn phải thấm nhuần đạo Trung dung mới không đưa ra những chính sách, những quyết định mang tính bất cập hoặc thái quá gây hại cho quốc gia. Khi còn ở nước Trần, Khổng Tử nói "Về đi! Về đi! Những học trò của quê hương ta, chí hướng thì rất cao xa mà việc làm thì rất giản lược, không câu nệ tiểu tiết; về văn chương đều có thể có thành tích khả quan. Nhưng họ chẳng biết xem xét, sửa mình theo đạo Trung dung.[108]".

Thuật lãnh đạo của Nho giáo đề cao những lãnh đạo biết quý trọng tài năng, biết dùng người. Lãnh đạo thiếu tài năng nhưng biết dùng người vẫn thành công. Ngược lại, lãnh đạo dù tài năng nhưng không biết dùng người cũng thất bại. Trọng Cung hỏi về quản lý chính sự, Khổng Tử nói "Trước là giao và kiểm soát công việc của những người dưới quyền. Tha thứ cho những sai lầm nhỏ của họ. Cử người hiền tài ra làm việc."[109]. Sách Đại học viết "Một vị đại thần dù chẳng có tài gì khác, nhưng có tấm lòng quảng đại, bao dung; thấy người khác có tài năng, hiền đức, đại thần đó kính phục từ trong tâm, thì vị đó có thể dung nạp người hiền tài, nên có thể che chở con cháu, xã tắc và nhân dân của ta. Đại thần đó đối với ta rất có ích lắm thay! Còn kẻ làm tôi thấy người khác có tài năng thì đem lòng đố kỵ, ghen ghét; làm điều khó dễ, khiến cho người ấy không được vua biết tới, không thành công trong mọi việc, thì loại người này hết sức nguy hiểm cho con cháu, xã tắc và nhân dân của ta![110]". Dụng nhân như dụng mộc. Phải biết dùng người vào công việc phù hợp với năng lực, đạo đức, tính cách của người đó. Khổng Tử nói "Mạnh Công Xước nếu làm gia thần cho họ Triệu, họ Ngụy thì tài năng có dư; còn làm đại thần nước Đằng, nước Tiết thì không đủ năng lực.".[111] Khi dùng người, nên chọn người nghiêm túc, cẩn thận, biết lo lắng khi đối mặt với công việc, biết mưu tính để đạt thành công. Tử Lộ hỏi Khổng Tử nếu ông thống lĩnh quân đội đi đánh giặc, ông sẽ chọn ai theo. Khổng Tử trả lời "Kẻ tay không mà dám đấu với hổ, không dùng thuyền mà dám lội qua sông, chết mà không tiếc thân thì ta chẳng thể chọn người như vậy theo giúp ta. Người theo giúp ta phải là người nghiêm túc, cẩn thận, biết lo lắng khi đối mặt với công việc, biết mưu tính để đạt thành công.[112]". Một người có trí tuệ, tài năng và kỹ thuật tài nghệ như Chu Công nhưng nếu kêu ngạo và keo kiệt, bủn xỉn thì không thể sử dụng các mặt khác của người ấy được[113].

Nho giáo xem hiền tài là nguyên khí quốc gia, vì vậy "Phát hiện người có tài đức mà không đề bạt cất nhắc hoặc không trọng dụng, đây là khinh rẻ người có tài đức vậy. Phát hiện kẻ bất lương làm sai trái mà không bãi chức, bãi chức rồi mà không đuổi ra nơi xa xôi hẻo lánh, đây gọi là dung túng cho kẻ bất lương vậy. Ưa thích cái mà mọi người ghét bỏ, ghét bỏ cái mà mọi người ưa thích, thế gọi là làm trái bản tính con người, tai họa nhất định giáng xuống kẻ ấy. Cho nên, làm người quân tử cần nhớ kỹ đạo lý lớn này: phải dựa vào trung tín mới được thiên hạ, còn nếu kiêu ngạo, phóng túng thì nhất định mất thiên hạ.[114]". Khổng Tử nói "Cất nhắc người ngay thẳng để trên kẻ tà ác thì có thể biến kẻ tà ác thành ngay thẳng"[115].

Nho giáo chủ trương người lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến mọi người rồi chọn ra quan điểm đúng đắn nhất để thi hành. Sách Trung Dung có câu: "Vua Thuấn là người có trí tuệ cao siêu nhất: ngài ham hỏi han, lại để tâm suy xét cả những lời thiển cận bình thường. Có ai bày tỏ làm điều gì xấu thì vua bỏ qua cho, ai nêu lên được điều gì tốt thì vua tán dương phát huy triệt để. Trong số những ý kiến ấy, vua Thuấn nắm chắc hai thái cực, chọn lấy cái đúng đắn, hợp lý để lãnh đạo, quản lý dân chúng.[116]". Người lãnh đạo mà tự ý làm càn, chuyên quyền độc đoán hay bảo thủ thì nhất định gặp tai họa. Khổng Tử nói "Kẻ ngu dốt ngoan cố, tự phụ mà hay tự ý làm càn; kẻ ty tiện mà lại hay chuyên quyền độc đoán; kẻ sống trong thời đại ngày nay mà lại muốn quay về theo lễ chế ngày xưa, ba hạng người như vậy nhất định sẽ gặp tai họa."[117]. Khổng Tử không bao giờ mắc phải bốn sai lầm: không dựa vào ý riêng; không phán đoán khẳng định, áp đặt; không cố chấp; không tự cho mình là đúng cả[118].

Trong quan hệ cấp trên với cấp dưới thì quan điểm của Khổng Tử là "Người bề trên đối với kẻ dưới không khoan dung rộng lượng, chấp hành lễ không nghiêm túc kính cẩn, cử hành tang lễ không đau buồn, thương xót, làm sao ta có thể chịu được ?[119]". Ngược lại người dưới cũng phải biết chọn cành mà đậu, chọn chúa mà thờ, chọn người mà hợp tác. Ai phụng sự, hợp tác với kẻ bạo ngược, tàn ác, vô đạo một ngày nào đó sẽ trở thành nạn nhân của kẻ đó. Khổng Tử nói: "Cư trú ở nơi có nhân đức mới tốt. Chọn nơi không có nhân đức để ở, làm sao có thể nói là người có đức trí được ?[120]".

Điều quan trọng nhất trong việc cai trị thiên hạ là lễ nhạc, luật lệ và văn tự. Nếu nắm vững ba điều này thì ít phạm sai lầm[121]. Sách Trung Dung đưa ra 9 nguyên tắc lớn trong đạo trị quốc là [122]:


  • Tu dưỡng bản thân thì đạo đức được xác lập.

  • Tôn trọng hiền tài thì không bị mê hoặc, ngu tối.

  • Yêu quý thân tộc thì chú bác, anh em không oán hận.

  • Kính trọng đại thần thì công việc ít phạm sai lầm.

  • Săn sóc quần thần thì kẻ sĩ tận lực báo đáp.

  • Quan tâm đến dân thì dân chúng thực hiện tốt mọi điều bề trên đề ra.

  • Khuyến khích bách nghệ phát triển thì vật dụng, hàng hóa buôn bán đủ đầy, sung túc.

  • Trọng đãi người nước ngoài đến nước mình làm ăn sinh sống thì bốn phương quy thuận.

  • Vỗ về chư hầu thì khắp thiên hạ sẽ kính phục.

Nhiễm Hữu đánh xe đưa Khổng Tử sang nước Vệ. Khổng Tử nói "Dân đông quá !". Nhiễm Hữu hỏi "Dân đã quá đông, nên làm như thế nào ?". Khổng Tử nói "Phải làm cho họ giàu lên". Nhiễm Hữu lại hỏi "Dân đã giàu lên rồi thì nên làm như thế nào nữa ?". Khổng Tử nói "Phải giáo hóa dân"[123]. Thiện nhân nắm quyền giáo hóa dân bảy năm thì có thể bảo họ ra trận được[124].

Muốn cai trị thiên hạ, theo Khổng Tử người lãnh đạo phải chính danh. Tử Lộ hỏi "Nếu vua nước Vệ mời thầy đi làm quan quản lý chính sự, thầy làm việc gì trước tiên ?". Khổng Tử nói "Việc trước tiên nhất định phải là chính danh đã". Tử Lộ chưa hiểu nên được Khổng Tử giải thích "Danh phận không rõ ràng thì nói sẽ không thuận. Nói không thuận thì việc không thành. Việc không thành thì lễ nhạc mất đi trật tự. Lễ nhạc mất đi trật tự thì hình phạt sẽ không thỏa đáng. Hình phạt không thỏa đáng khiến dân không biết làm thế nào cho đúng. Cho nên người quân tử khi được định danh phù hợp với thực thì có thể nói ra được, mà nói ra là có thể thực hành thông suốt. Người quân tử đối với lời mình nói thì không bao giờ để sơ suất".[125] Đây là thuyết chính danh trong triết học chính trị của Nho giáo.

Nho giáo là một học thuyết chính trị với lý tưởng an bang định quốc nhưng không hề mang tính bảo thủ. Nho giáo khuyên người cầm quyền luôn tự đổi mới cách cai trị của mình cho hợp thời và khuyến khích dân chúng đổi mới để ngày càng văn minh, tiến bộ hơn. Sách Đại học viết "Trên chậu tắm của vua Thành Thang có khắc mấy chữ: Mỗi ngày nếu có thể làm cho mình được mới hơn, thì ngày nào cũng nên tự đổi mới. Nên khuyến khích nhân dân đổi mới."[126].

Đối với người có chí hướng làm quan, tiến thân lập nghiệp, Khổng Tử khuyên: "Phải nghe nhiều, có điều gì nghi ngờ thì phải giữ lại, những điểm nào thấy minh bạch chắc chắn thì nói một cách thận trọng, như vậy sẽ giảm được oán trách. Phải quan sát nhiều, nếu có điều gì nguy hại thì dẹp lại một bên đừng làm; còn những điều gì xét thấy chắc chắn, đảm bảo thì làm một cách thận trọng, như vậy nhất định giảm được nhiều điều hối hận. Nói ít phạm sai lầm, không có ai oán trách; làm không để xảy ra điều gì phải hối hận thì quan tước, bổng lộc đã tự có ở trong đó rồi.[127]". Tử Cống hỏi "Giả dụ có một người đưa lại nhiều điều tốt đẹp cho dân chúng, lại có thể giúp đỡ mọi người có cuộc sống ấm no, người như vậy có thể xem là người có đức nhân không ?". Khổng Tử nói "Người như vậy không chỉ là người có đức nhân mà còn là bậc thánh nhân nữa ! Vua Nghiêu, vua Thuấn cũng khó mà làm được như vậy !"[128]. Theo Tăng Tử, người quân tử là người có thể ủy thác vị vua còn nhỏ tuổi, có thể giao phó vận mệnh của quốc gia; trong giờ phút nguy hiểm, sống chết gần kề vẫn giữ được khí tiết[129]. Tử Trương hỏi về quản lý chính sự, Khổng Tử nói "Giữ chức vụ gì không trễ nãi, làm việc gì cốt giữ trung thực[130]". Tử Hạ làm huyện trưởng Cử Phụ, hỏi Khổng Tử về quản lý chính sự. Khổng Tử nói "Đừng muốn nhanh được việc, đừng tham lợi nhỏ mà làm. Muốn nhanh thì việc làm không đến nơi. Tham lợi nhỏ thì việc lớn không thành"[131]. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể làm quan. Nguyên Hiến hỏi về sự hổ thẹn. Khổng Tử nói "Nước có đạo thì làm quan hưởng thụ bổng lộc; nước không có đạo cũng làm quan hưởng thụ bổng lộc: như vậy là hổ thẹn[132]". Chính quan niệm này đã tạo ra những vị quan có tư cách cao thượng thời quân chủ sẵn sàng từ quan nếu thấy nhà vua vô đạo, không biết nghe lời trung thần, tin dùng gian thần hoặc thấy không thể giúp nước giúp đời trong một nền chính trị thối nát.

Khổng Tử đánh giá cao người lãnh đạo nghĩ đến lợi ích chung, không tham quyền cố vị, biết rút lui nhường chỗ cho người tài đức hơn mình và xem đó là điều nên làm chứ không phải để lấy danh tiếng. Ông nói "Thái Bá là con người có đức hết mực. Nhiều lần ông ta đem thiên hạ nhường cho người khác, nhưng không để dân chúng biết mà ca ngợi công đức của mình."[133]. Điều này cho thấy Nho giáo nguyên thủy muốn xây dựng xã hội hài hòa, thiết lập quan hệ tốt đẹp giữa người cai trị và dân chúng, đào tạo ra người lãnh đạo tài đức chứ không phải là công cụ của giai cấp thống trị bảo vệ chế độ chính trị của họ, thậm chí Nho giáo rất gần với tư tưởng về nhà nước dân chủ.

Đại thần Triệu Phổ thời Bắc Tống đã khuyên Tống Thái Tổ: "Chỉ cần đọc nửa bộ Luận ngữ là có thể cai trị thiên hạ (半部 “论语” 治天下). Câu nói ấy phản ánh tác dụng và ảnh hưởng đối với đạo trị quốc của văn hoá Nho gia trong lịch sử Trung Quốc. Vì thế trong suốt cuộc đời, Tống Thái Tổ luôn thực hành nhân nghĩa thương dân, khoan dung với kẻ thù, là sự trái ngược tích cực với những nhà cai trị khác như Tần Thủy Hoàng, Tùy Dạng Đế... Tống Thái Tổ cũng cho cải cách khoa cử, tăng cường đãi ngộ cho văn nhân để tuyển dụng người tài vào triều làm quan, tránh tình trạng quan chức bị cha truyền con nối bởi việc lũng đoạn của sĩ tộc. Nhờ vậy, Nhà Tống do ông đặt nền móng đã kéo dài đến 320 năm.

Vua Khang Hi là một ví dụ tiêu biểu. Dù là người Mãn, ông rất quan tâm tới truyền thống văn hóa cổ của người Hán, đã học qua các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh, Sử ký, Hán thư, Tư trị thông giám... Khang Hi xem những tư tưởng cơ bản của Nho giáo như Tam cương ngũ thường, trung hiếu tiết nghĩa là nền tảng trị quốc. Việc áp dụng mạnh tư tưởng đó giúp ông thống nhất quốc gia, khiến mâu thuẫn dân tộc Mãn-Hán tương đối hòa dịu, nhờ thế mà thiết lập được sự thịnh trị dài trên 130 năm của nhà Thanh, được đời sau khen ngợi là "Khang Càn thịnh thế".


Chữ hiếu và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]


Tranh vẽ của Nhật Bản mô tả Dương Hương (杨香), cô gái 14 tuổi đã dám đánh hổ cứu cha. Cô được các nhà Nho xếp vào một trong Nhị thập tứ hiếu (24 tấm gương hiếu thảo)

Nho giáo khẳng định rằng sự giáo dục từ trong gia đình có tác động mạnh mẽ, thậm chí quyết định sự thành công của việc trị nước. Nếu mọi người đều yêu thương cha mẹ, bà con mình, kính trọng trưởng thượng của mình, thì tự nhiên thiên hạ sẽ được thái bình. Người biết hiếu thuận với cha mẹ, kính trọng người lớn tuổi hơn mình thì khó lòng làm những chuyện phản loạn, đại nghịch bất đạo. Do vậy hiếu đễ là gốc của đạo nhân. Hữu Tử nói: "Người biết hiếu thuận với cha mẹ, có nết đễ với người lớn tuổi hơn mình mà lại thích cãi cọ, va chạm, xung đột, mạo phạm cấp trên là hiếm thấy. Người không mạo phạm cấp trên mà lại thích làm loạn là không có. Người quân tử là người chuyên tâm nắm vững cái gốc của tu thân. Nắm vững được cái gốc của tu thân thì đạo lập thân xử thế tự nhiên phát sinh ra trong lòng mình. Hiếu đễ là cái gốc của đạo nhân.[134]".

Chính vì thế, nếu muốn xã hội ổn định, dân chúng nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp của nhà nước, không manh tâm bạo động phá hoại trật tự xã hội thì trẻ em ngay từ nhỏ phải được giáo dục yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ và anh chị em trong nhà. Trong chương đầu Khai tông minh nghĩa của Hiếu Kinh, thuật lại lời Khổng Tử nói với Tăng Tử:




Một hình vẽ trong sách Nhị thập tứ hiếu. Đạo hiếu là đức tính được nhà Nho coi là nền tảng cho đạo đức xã hội

Việc kính trọng cha mẹ được đặt lên hàng đầu trong quan niệm về đạo hiếu của Nho gia vì như Khổng Tử nói: "Ngày nay, thấy ai có thể nuôi dưỡng được cha mẹ, thì người ta gọi là có hiếu. Nhưng đến như giống chó ngựa thì người ta cũng nuôi được vậy. Cho nên nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ trong khi nuôi dưỡng, thì nuôi cha mẹ và nuôi chó ngựa có gì khác nhau?[136] Cha mẹ lúc còn sống, phải theo lễ mà đối xử phụng sự. Cha mẹ chết, phải theo lễ mà an táng, cúng tế, đó mới là hiếu.[136] Chứ còn như có việc gì cần làm, con cái làm thay cho cha mẹ, có gì ngon thì mời cha mẹ ăn, đây chắc gì đã là có hiếu?[136]". Để thể hiện sự kính trọng đối với cha mẹ thì "Phụng dưỡng cha mẹ phải nhẹ nhàng khuyên giải, can ngăn. Nếu cha mẹ không chịu nghe thì vẫn phải cung kính, không được trái ý nguyện của cha mẹ, đừng để cha mẹ bận tâm gây nên oán hận.[137]". Đạo hiếu còn thể hiện qua những điều đơn giản như "Cha mẹ già còn sống không được đi chơi xa, nếu có đi phải nói rõ nơi nào cụ thể... Tuổi tác của cha mẹ không thể không nhớ kỹ trong lòng. Một là vì cha mẹ trường thọ mà vui mừng, hai là biết lo toan chuẩn bị hậu sự khi cha mẹ về già.[138]".

Khổng Tử nói: "Khi người cha còn sống thì quan sát chí hướng của người con, khi người cha chết thì quan sát hành vi của người con. Nếu ba năm sau khi cha mất, người con không thay đổi những quy tắc của đạo làm con đối với cha, đó là người con có hiếu vậy.[139]". Tăng Tử tóm lược: "Hiếu đạo có 3 điều: Đại hiếu là tôn kính cha mẹ, thứ đến là không làm gì gây tai tiếng cho cha mẹ, sau cùng là nuôi dưỡng cha mẹ". Mạnh Tử bàn về chi tiết chữ “Hiếu” như sau: “Việc phụng sự cha mẹ của người con hiếu là: Cư xử hết lòng kính trọng, dưỡng nuôi cố làm đẹp lòng, bệnh đau tận tâm lo lắng, ma chay hết sức xót thương, tế lễ nghiêm trang rất mực”.[140]

Diệp Công thưa với Khổng Tử "Nơi chúng con có một người rất ngay thẳng. Cha ăn trộm dê, con ra làm chứng". Khổng Tử nói "Người ngay thẳng ở chỗ ta khác với người ngay thẳng ở nơi ngươi. Cha che giấu cho con, con che giấu cho cha. Làm như vậy sự ngay thẳng vẫn ở trong đó".[141]

Sách Nhị thập tứ hiếu (24 tấm gương hiếu thảo) đã khái quát:


Người tai mắt đứng trong trời đất,

Ai là không cha mẹ sinh thành,

Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết,

Thì suy ra trăm nết đều nên,

Chẳng xem thuở trước Thánh Hiền,

Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu.

Vai trò của gia đình[sửa | sửa mã nguồn]


Ngay từ 2.500 năm trước, Khổng Tử đã thấy rõ vai trò của gia đình như một tế bào của xã hội. Nếu mỗi gia đình được yên ấm thì mỗi thành viên của nó mới có điều kiện tu dưỡng bản thân, đạo đức mới được đề cao, xã hội mới được thịnh trị. Ngược lại, nếu mỗi gia đình lục đục thì con người sẽ bị tha hóa, kỷ cương xã hội sẽ dần rối loạn.


Hình vẽ trong Hiếu Kinh của Nho giáo kể về đạo thờ phụng cha mẹ vào thời Tống

Vua Tề Cảnh Công đã hỏi Đức Khổng về cách cai trị, Ngài đáp: "Phải làm sao cho mọi người làm tròn chức vụ của mình. Vua ở cho hết phận vua, tôi ở cho hết phận tôi, cha ở cho hết phận cha, con ở cho hết phận con." Vua Cảnh Công khen rằng: "Ngài nói phải thay! Nghĩ như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, ở trong tình cảnh hỗn loạn như thế, dẫu là ta có lúa thóc đầy kho, có chắc được ngồi yên mà ăn được không?"[142]

Sách Đại Học đề cao tầm quan trọng của gia đình đối với quốc gia xã hội: "Nếu trong một nhà mà mọi người đều nhân hậu, lần ra cả nước đều nhân hậu. Nếu trong một nhà mà mọi người đều lễ nhượng thì lần ra cả nước đều lễ nhượng. Một người mà tham lam, trái ngược, lần ra cả nước đều rối loạn. Cái cơ là như vậy đó. Bởi đó, người xưa có truyền lại rằng: Một lời làm hại cả công việc, một người làm yên cả nước."[143] hay "Một nhà hòa thuận mới có thể giáo dục cả nước hòa thuận.[144]"

Do vậy, Nho giáo quy định rất rõ tôn ti trật tự và vai trò trong gia đình:


  • Người đứng đầu gia đình là người có trách nhiệm lớn lao nhất trong sự duy trì, phát triển gia đình. Trong gia đình nhiều thế hệ, vị trí người gia trưởng thuộc về người cụ, người ông hay người cha thuộc ngành trưởng. Tôn ti trật tự gia đình này tuân thủ các quy định về trưởng - thứ, nam - nữ, nội - ngoại hết sức chặt chẽ tạo nên chế độ gia trưởng tông tộc bền vững. Chính vì vậy người đứng đầu gia đình phải có đạo đức tốt vì "tự bản thân mình không tu dưỡng tốt thì không lấy gì chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc được[145]". Việc chỉnh đốn gia đình (tề gia) là việc không dễ dàng vì "... con người ta đối với người mình thân thích thì thường có sự thiên lệch... Cho nên ưa thích ai lại biết được khuyết điểm của người ấy, khi ghét bỏ ai lại biết được ưu điểm của người ấy, người làm được như vậy là hiếm có trong thiên hạ[145]".

  • Nho giáo coi trọng nguồn gốc con người, coi gia đình gắn chặt với họ hàng, coi tuyệt tự, quên mất tổ tiên là tội lỗi với tổ tiên. Do đó, việc ghi chép gia phả, cúng tế tổ tiên, họp mặt họ tộc... là việc đặc biệt quan trọng, không được bỏ bễ.

  • Nho giáo đề cao chữ Hiếu, đề cao lễ nghĩa, tiết hạnh, bảo vệ gia đình, gia tộc, tông tộc. Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, cha mẹ mất thì phải chôn cất chu đáo, cư tang để đền đáp ân nghĩa.

  • Trong hôn nhân, Nho giáo đề cao tình nghĩa vợ chồng, không cho phép ngoại tình sau khi kết hôn. Người vợ phải biết Tam tòng, tứ đức, ngược lại người chồng cũng không được lạm dụng uy quyền để hành hạ vợ (bởi như thế là hành vi "Bất nhân, bất nghĩa").

  • Nho giáo coi trọng trinh tiết, đối với việc quan hệ tình dục trước hôn nhân hoặc sống thử, đạo Nho rất phê phán, xem đó là hành động vô đạo đức, làm nhục gia quy. Nhiều người thời hiện đại phê phán tư tưởng này là "cổ hủ, chà đạp quyền tự do", nhưng nếu suy nghĩ sâu xa thì quy định này đảm bảo sự bền vững của mỗi gia đình cũng như xã hội: con gái biết quý trọng trinh tiết nên không lo bị Sở Khanh lừa gạt, con trai thì có ý thức giữ gìn bản thân không sa đọa vào nữ sắc, nạn mại dâm không thể lan tràn, bệnh hoa liễu và nạo phá thai được giảm thiểu tối đa (điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh y học thời xưa còn lạc hậu).

  • Trái với cách nghĩ của nhiều người cho rằng Nho giáo "chà đạp phụ nữ", thực sự chính Nho giáo đã bảo vệ quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của người phụ nữ trong một xã hội luôn bị thiên tai, dịch bệnh đe dọa (đàn ông không được ngoại tình, đánh mắng vợ vì lo sợ bậc trưởng thượng và gia tộc của anh ta phê phán, người mẹ già không lo bị con cái bỏ rơi, kẻ cưỡng hiếp phụ nữ bị luật pháp trừng trị rất nghiêm khắc). Ngược lại, Nho giáo cho rằng người phụ nữ cũng phải tu dưỡng bản thân, rèn luyện những mỹ đức như Công-Dung-Ngôn-Hạnh, chăm sóc gia đình chu đáo, làm đẹp lòng họ tộc, có như vậy gia đình và dòng tộc mới được yên ấm.

  • Ở quy mô rộng, xây dựng gia đình êm ấm không chỉ là để cho bản thân và các thành viên khác có hạnh phúc mà còn là việc quan trọng để xây dựng xã hội thịnh trị. Do vậy, các triều đình luôn có những phần thưởng nhằm tuyên dương những gia đình mẫu mực, lấy họ làm gương cho xã hội. Những người phụ nữ thực hiện xuất sắc Tam tòng tứ đức được phong danh hiệu "Liệt nữ". Làng xã nào có nhiều tấm gương về đạo Hiếu sẽ được phong tặng danh hiệu “Làng hiếu thảo”. Những phần thưởng này có giá trị không kém gì việc đỗ đạt Khoa bảng, là niềm tự hào không chỉ của mỗi gia tộc mà còn của cả địa phương đó. Sách Đại học có đoạn "Muốn trị quốc tốt trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Bởi vì người trong gia đình, gia tộc mình giáo dục không được, mà lại có thể giáo dục được người khác thì đây là điều không thể có. Cho nên người quân tử không cần ra khỏi nhà mà vẫn giáo dục tốt dân một nước.[146]". Đối với bậc quân vương thì "Bậc vua hiền xử sự ở địa vị một người làm cha, làm con, làm anh, làm em đề trở thành tấm gương cho cả gia tộc noi theo, thì nhân dân mới noi theo. Như vậy là muốn nói trị quốc tốt trước hết là ở chỗ chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình[144]".

Tại những nơi Nho giáo có ảnh hưởng, việc thờ cúng tổ tiên, chăm sóc phần mộ tổ tiên, viết gia phả dòng họ, cúng giỗ theo nghi lễ rất được chú trọng. Việc cúng giỗ, các buổi họp họ hay các dịp mừng thọ là để bày tỏ lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, cầu mong tiên tổ phù hộ cho con cháu có được thành công trong cuộc sống, nhắc nhở lại lịch sử và chiến công của tổ tiên, cũng là dịp khen thưởng động viên cho những thành viên gương mẫu, tài năng trong dòng họ.


Gia phả dòng họ Nguyễn Đông Tác (bản sao chép năm Nhâm Thân(1932). Soạn Gia phả được xem là việc làm thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu với tổ tiên, cũng là công cụ hữu ích để giáo dục thế hệ sau

Gia phả họ Đặng (Đặng Tộc Đại Tông Phả) do Yên Quận công Đặng Đình Thự biên tập năm 1683 khái quát tầm quan trọng của gia phả:


"Vì sao phải lập phả? Vì rằng mọi vật sinh thành đều có gốc ở trời, con người sinh ra đều có cội nguồn từ tổ tiên. Các đời tổ tiên xa dần thì con người dễ quên. Cổ lễ đặt ra tôn tổ, kính tông là để con cháu nhớ họ hàng vậy. Các đời truyền xa dần, sự tích mờ nhạt đi thì ai còn biết được công đức của tổ tông? Mỗi nhà lẽ nào lại không có phả riêng để ghi lại sao?

Sợ rằng cuốn phả cũ của gia tiên không được tu bổ thì nề nếp tốt đẹp của tổ tông không được kế thừa, còn ai biết được cội nguồn của gốc nhân nền nghĩa? Điều đáng sợ chính là con cháu phóng đãng, lãng quên không biết noi theo đức hạnh của tổ tiên. Ta không muốn tiếng tăm của gia đình như ngọc lành mang vết, cho nên trình bày khái lược công đức to lớn của các cụ thủy tổ tiếp đến công nghiệp của liệt tổ liệt tông, chính là để làm gương cho con cháu muôn đời, để con cháu hàng ngàn năm sau vẫn còn ngợi ca công lao vất vả cũng như khí tiết giản dị, cương nghị của tổ tiên. Những con cháu thành đạt có thể chiêm ngưỡng mà noi theo; những con cháu hư hỏng cũng biết mà lấy đó làm răn"

Có thể nói Nho giáo đề cao gia đình hơn bất cứ một học thuyết nào khác. Quan hệ gia đình theo Nho giáo là quan hệ đặc biệt chặt chẽ, phải được tái sinh, tái lập, và mở rộng theo trách nhiệm nghĩa vụ, và đồng thời giữ gìn trật tự kỷ cương. Chúng ta thường nghe nói "Nước có quốc pháp, nhà có gia phong", là câu nói răn dạy con người sống có phép tắc, đồng thời còn là biểu tượng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc là nguyên khí tinh thần độc lập, tự cường của một dân tộc, là bản sắc riêng về truyền thống văn hóa[147]

Hiện nay, mô hình gia đình ở Đông Á chuyển mình mạnh mẽ từ truyền thống sang hiện đại. Sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường tới gia đình đã làm cho lối sống, nếp sống, chuẩn mực của gia đình truyền thống đã bị mai một. Bên cạnh đó, nhiều hiện tượng tiêu cực về đạo đức, văn hoá gia đình đã xuất hiện như: cha mẹ vô trách nhiệm với con cái, con cái vô lễ ông bà cha mẹ, anh em bất hoà, vợ chồng mâu thuẫn, ngoại tình… khiến các giá trị gia đình bị suy thoái nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội. Trước nguy cơ các nét đẹp về trật tự và đạo đức của gia đình truyền thống bị mất mát, khuynh hướng nuối tiếc các tập quán gia đình tốt đẹp mà Nho giáo đã tạo dựng, hy vọng phục hồi trở lại các trật tự gia đình "cha ra cha, con ra con, chồng ra chồng, vợ ra vợ"… cũng trở nên ngày một mạnh mẽ. Nhiều nghiên cứu gần đây đã khẳng định đạo đức gia đình Nho giáo vẫn còn nhiều điều hữu ích cần được nuôi dưỡng trở lại để giáo dục trẻ em, tạo dựng gia đình nề nếp, góp phần làm lành mạnh xã hội[148].


Vai trò của cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]


Một buổi lễ khen thưởng những học sinh giỏi và những gương sống tốt tại Miếu thờ Khổng Tử tại Đài Loan

Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm cai trị xã hội đồng thời là một học thuyết đạo đức với lý tưởng đào tạo ra con người kiểu mẫu được gọi là quân tử. (Khổng Tử dùng từ "quân tử" để chỉ người giàu phẩm chất đạo đức: "Quân tử sở tính Nhân nghĩa lễ trí", phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Tu thân là tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức bản thân. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lý. Đạo ở đây là con đường để hoàn thiện chính mình, hoà hợp đất trời để trở về bản ngã "bổn thiện" từ đó giúp nước, giúp đời.).

Nho giáo đặc biệt coi trọng con người, coi con người cùng với Trời và Đất là “Tam tài”. Con người có vai trò tham phối với Trời Đất, góp phần vào sự hóa dục (vạn vật) của Trời Đất (Trung dung). Xã hội được tạo ra từ nhiều cá nhân. Cá nhân là căn bản của xã hội. Vì vậy từ Khổng Tử, Nho giáo đã coi trọng cõi người, quan hệ giữa người và người, việc tu dưỡng thành người. Nhân tính và đạo đức là linh thiêng, không có đạo đức thì con người chẳng khác gì cầm thú và các vật vô tri. Đã là người thì phải học, phải tu dưỡng, đặc biệt người cầm quyền phải biết lo giáo hóa, phải làm cho thuần phong mỹ tục trở nên tốt đẹp. Học thuyết chính trị - đạo đức mà trung tâm là tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, được xây dựng trên cơ sở khuynh hướng nhân bản đó.[149]

Nho giáo xem đạo đức của con người quan trọng hơn tài sản. Chỉ có đạo đức mới có thể làm nên giá trị chân chính của một con người. Khổng Tử nói "Người quân tử quan tâm đến đạo đức, kẻ tiểu nhân khao khát ruộng vườn nhà cửa. Người quân tử quan tâm đến phép tắc, kẻ tiểu nhân mong cầu ân huệ.[150]".

Sách Đại Học (một trong những kinh điển của Nho giáo) thuộc Tứ thư có ghi: "Phàm những thánh nhân muốn phát huy tính thiện của con người đến khắp thiên hạ, trước hết phải lãnh đạo tốt nước mình. Muốn lãnh đạo tốt nước mình, trước hết cần chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Muốn chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc thì phải tu dưỡng tốt bản thân mình. Muốn tu dưỡng tốt bản thân mình thì phải làm cho tâm tư mình ngay thẳng, đoan chính. Muốn cho tâm tư mình ngay thẳng, đoan chính thì phải có ý nghĩ thành thật. Muốn có ý nghĩ thành thật thì phải có nhận thức đúng đắn. Mà con đường nhận thức đúng đắn là nghiên cứu đến nơi đến chốn, lĩnh hội được cái nguyên lý của sự vật...[151] Muốn tu dưỡng phẩm cách đạo đức, trước hết phải giữ cho lòng mình ngay thẳng. Một khi lòng mình chẳng được ngay thẳng thì có nhìn cũng không thấy, có nghe cũng không hay, có ăn gì cũng không biết mùi vị. Đạo lý tu dưỡng phẩm đức trước hết cần phải giữ lòng mình ngay thẳng là vậy... Từ thiên tử đến bình dân, ai ai cũng phải lấy tu dưỡng phẩm đức làm gốc. Một cây mà gốc đã mục nát rồi thì ngọn còn tốt tươi là điều không thể có. Ai xem nhẹ cái căn bản quan trọng, lại đi coi trọng cái chi tiết thứ yếu, xưa nay chưa từng thành công bao giờ.".[152]

Khi đã nhận thức đúng đắn, sâu sắc và toàn diện thế giới, con người được giải phóng khỏi sự vô minh đi kèm với nó là những cảm xúc tiêu cực để hướng tới sự hoàn thiện trí tuệ và đạo đức, hướng tới Chân Thiện Mỹ. Đó chính là cái gốc của tu thân làm nền tảng để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Những kẻ trong lòng đầy những cảm xúc tiêu cực, những định kiến do hiểu biết hạn hẹp, phiến diện; đầy những suy nghĩ xấu xa về người khác; những kẻ thiếu lòng bao dung, không biết tha thứ cho sai lầm, không biết thông cảm cho khó khăn, nhược điểm của người khác, thiếu khả năng chấp nhận sự khác biệt không thể nào đánh giá khách quan thế giới xung quanh, không thể tự hoàn thiện bản thân, hướng tới Chân Thiện Mỹ mà dễ nảy sinh hành động cực đoan hại người hại mình. Quan điểm này của Nho giáo cũng tương đồng với triết lý của nhà Phật về từ bi và trí tuệ, sự phá chấp, sự giác ngộ cũng như quan điểm của triết học phương Tây hiện đại về lý tính và tự do.

Đức Khổng Tử nêu lên ngũ thường (ngũ luân) với thuyết chính danh và chữ "Nhân" để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.

Ngũ thường: ngũ là năm; thường là bình thường, thông thường, vĩnh hằng. Ngũ thường nghĩa là năm phẩm chất đạo đức thông thường của con người. Người ta phải giữ năm đạo đó làm thường, không nên để rối loạn. Ngũ thường gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.


  • Nhân: Là tính thiện sẵn có của con người, là tình yêu thương đồng loại, khoan dung độ lượng. Theo Luận ngữ, Nhân là sự phô bày rất thực tiễn và ngoại tại các phẩm tính của con người. Khổng Tử nói: "Khi ở nhà giữ gìn dung mạo khiêm cung; khi ra làm việc thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người, giữ lòng trung thành. Dẫu đi tới các đoàn rợ phương đông và phương bắc, cũng chẳng bỏ ba đức hạnh cung, kính và trung ấy, như vậy là người có đức nhân". "Đi ra ngoài làm việc phải giống như gặp khách quý. Sai khiến dân phải giống như đang làm lễ tế lớn vậy. Việc mình không muốn thì đừng ép người khác muốn. Ở trong nước, ở trong nhà đừng để có ai oán hận mình.[153]".
    • Nhân là đức tính quan trọng nhất trong ngũ thường. Khổng Tử nói "Muốn tu thân phải tuân theo đạo lý. Muốn tuân theo đạo lý, phải thực hiện nhân. Nhân tức là tính người, là kính yêu người trong thân tộc, yêu nhân dân của mình. Đó là điều lớn nhất trong chữ nhân."[154]. Người có tính cương trực, chí quyết đoán, lòng chất phác, nói cẩn thận, có đủ bốn phẩm đức này đã gần với đạo nhân[155]. Người thích điều nhân sẽ coi điều nhân trên hết, ghét điều bất nhân, trong thực tế sẽ luôn làm điều nhân, không bao giờ chịu ảnh hưởng xấu của điều bất nhân[156]. Người đã mong muốn làm điều nhân thì không thể làm điều gì xấu[157]. Chỉ người có đức nhân mới có thể đánh giá người khác một cách khách quan, không bị những cảm xúc tiêu cực bóp méo nhận thức về con người và xã hội. Khổng Tử nói: "Chỉ có người có đức nhân mới có thể hay yêu người và hay ghét người.[158]". Người có nhân nhất định dũng cảm nhưng người dũng cảm chưa chắc đã có nhân[159]. Người có đức nhân không bao giờ ưu lo[160]. Để đánh giá người có đức nhân hay không hãy nhìn vào sai lầm của người đó. Khổng Tử nói: "Sai lầm người ta mắc phải có quan hệ đến loại người. Loại người như thế nào thì sẽ phạm sai lầm như thế ấy. Xem sai lầm của một người đã phạm, có thể biết người đó có đức nhân hay không.[161]". Người quân tử chẳng may lỡ làm việc bất nhân là có nhưng chưa có kẻ tiểu nhân nào mà làm được một việc có nhân[162]. Nguyên Hiến hỏi "Nếu một người tự kìm nén được bốn tật xấu như hiếu thắng, phô trương, oán hận, tham lam thì người đó có thể xem là người có nhân không ?". Khổng Tử nói "Như thế có thể cho là làm được việc khó. Nhưng có thể xem là người có nhân hay không thì ta không biết."[163]. Người lãnh đạo phải nhân đức thì dân chúng mới hăng hái theo điều nhân. Khổng Tử nói "Người quân tử ở ngôi trên nếu biết đối đãi nồng hậu với anh em họ tộc của mình, ắt dân chúng trăm họ sẽ hăng hái theo điều nhân. Người quân tử ở ngôi trên nếu không bỏ bạn bè thân thiết cũ, thì dân chúng cũng không đối xử với nhau bạc bẽo vô tình.[164]". Tuy nhiên người đời lại thích tiền tài, địa vị, nhan sắc hơn là làm điều nhân đức. Khổng Tử từng cảm thán "Ta chưa từng nhìn thấy ai thích đức nhân như thích sắc đẹp.[165]". Đối với người bất nhân cũng không nên ghét bỏ quá mức vì nếu bị ghét bỏ quá mức họ dễ trở thành kẻ làm loạn[166].

    • Nhân là phẩm chất đạo đức đầu tiên mà người đạo đức phải có. Khổng Tử nói: "Người quân tử xa rời đạo nhân làm sao có thể xứng danh quân tử được. Người quân tử không bao giờ xa rời đạo nhân dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn. Dù cho ở hoàn cảnh bức bách khốn cùng, phải phiêu bạt nơi đất khách quê người cũng không bao giờ xa rời đạo nhân.[167]". Để trở thành con người nhân đức thì phải không ngừng tu dưỡng bản thân. Theo Khổng Tử, muốn làm người nhân đức không khó. Ông nói "Không lẽ điều nhân xa chúng ta như vậy ư ? Ta nghĩ muốn đạt được điều nhân thì điều nhân sẽ đến[168]". Tuy nhiên theo ông: "Ta chưa thấy người nào đạt đến điều nhân mà không tốn sức tốn công rèn dũa. Người không mất sức mà đạt đến nhân, đại khái cũng có thể có, nhưng ta chưa gặp bao giờ.[169]". Tăng Tử, học trò của Khổng Tử, lại cho rằng "Kẻ sĩ không thể không có hoài bão lớn lao, ý chí kiên cường, tinh thần kiên nghị. Bởi vì trách nhiệm gánh vác của kẻ sĩ rất nặng mà đường lại còn xa. Gánh điều nhân làm trọng trách của mình chẳng lẽ không phải là quá nặng nề ư ? Chỉ đến khi chết rồi mới ngừng nghỉ, chẳng lẽ không phải đường dài lắm đó ư ?[170]". Người có đức nhân là người trước hết biết chịu đựng gian khổ, làm những việc khó khăn, rồi sau mới thu hoạch[171]. Người có đức nhân là người biết mình đã lập nên sự nghiệp cũng muốn người khác lập nên sự nghiệp; mình thành đạt cũng muốn người khác thành đạt; phàm làm việc gì cũng lấy mình ra đối chiếu, thử áp dụng lên mình để hiểu biết ý muốn của người[172]. Việc gì mình không thích, có hại cho mình thì không làm cho người. Người có đức nhân không nói chuyện một cách tùy tiện, phải nhẫn nại[173]. Người có đức nhân, luôn mong muốn làm điều nhân đức sẽ không lấy của cải vật chất làm thước đo mình và mọi người, không thất chí trong hoàn cảnh khó khăn. Khổng Tử nói: "Kẻ sĩ lập chí vì đạo nhân mà cảm thấy nhục nhã khi ăn đói, mặc rách, người như vậy không đáng để cùng bàn luận đạo nhân.[174]". Tuy nhiên nhân đức không có nghĩa là hành động nông nổi, thiếu suy nghĩ, vì người mà hại mình. Khi được Tể Ngã hỏi người có đức nhân có nên nhảy xuống giếng cứu người hay không, Khổng Tử trả lời "Người quân tử là người tìm cách cứu người, chứ không thể nhảy xuống giếng mà hại thân. Người quân tử có thể bị lừa bởi những điều có lý nhưng không thể bị hại bởi những điều xằng bậy vô lý.[175]". Đối với bậc thức giả, nếu quân vương sáng suốt, nhân nghĩa thì phò tá; quân vương vô đạo thì ở ẩn, như vậy là người nhân đức. Tử Cống hỏi Khổng Tử khi Bá Di, Thúc Tề ở ẩn họ có oán hận gì không ? Ông trả lời "Theo đuổi điều nhân mà được điều nhân, còn phải oán hận gì nữa ?"[176].

  • Nghĩa: Là cư xử cho hợp lẽ phải, đường hoàng, hào hiệp. Hành vi của con người phải chính đáng, chú trọng quy tắc, tiêu chuẩn, trọng tâm là nghĩa vụ và trách nhiệm. Trước khi làm gì phải xem xét hành vi đó có hướng đến điều "thiện" hay không, có thể hiện tiêu chuẩn đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm với cộng đồng hay không. Nghĩa là cơ sở để con người hành động. Người có đạo đức chỉ làm những việc hợp nghĩa. Chuyện gì không hợp nghĩa thì không làm. Khổng Tử nói "Người quân tử đối với mọi việc trên thế gian, không nhất định phải làm việc này hoặc không làm việc kia, mà xem việc đó có hợp nghĩa hay không, nếu hợp nghĩa thì làm.[177]". Ông cũng cho rằng "... Nhìn thấy việc chính nghĩa không dám làm, là không có dũng khí.[178]". Tinh thần trọng nghĩa khinh tài của Nho giáo được thể hiện trong câu nói của Khổng Tử "Người quân tử chỉ biết điều nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết điều lợi.[179]". Một số người cho rằng quan niệm coi trọng đạo nghĩa hơn lợi ích vật chất là điểm lạc hậu của Nho giáo kiềm hãm sự phát triển kinh tế. Đó là sự ngộ nhận vì Nho giáo không phản đối làm giàu mà chỉ phản đối làm giàu bằng mọi giá, thấy lợi quên nghĩa cũng như nền văn minh phương Tây với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính vị lợi cao độ cũng không hề chấp nhận việc làm giàu gây hại cho người khác hoặc cho cộng đồng; gây ô nhiễm môi trường; vi phạm đạo đức, nhân quyền và các quy tắc xã hội. Khổng Tử nói "Nước nhà thái bình mà mình lại nghèo hèn, như vậy là đáng sỉ nhục. Nước nhà loạn lạc mà mình giàu có như vậy cũng là đáng sỉ nhục.[180]".

  • Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật. Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững nền văn hiến của một nước, lễ mà bại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan, xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh. Khổng Tử nói: "Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành loạn nghịch. Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ.[181]". Trong ứng xử, lễ thể hiện qua điệu bộ, cử chỉ, phong thái. Trước khi chết Tăng Tử dặn dò học trò "Người quân tử giữ đạo lý nên đặc biệt coi trọng 3 điều: Cử chỉ, dung mạo điềm đạm, dáng điệu khoan thai, đàng hoàng sẽ giữ cho mình tránh thô bạo và phóng túng. Giữ sắc mặt đoan trang sẽ giúp mình giữ được chân thật và thành thực với mọi người. Nói năng chú ý giữ được điệu bộ, giọng điệu sẽ giúp mình tránh được thô bỉ và sai sót.[182]".

  • Trí: Óc khôn ngoan, sáng suốt. Cảm giác đúng và sai. Biết tiên liệu, tính toán để hành động hợp đạo lý. Người có đức trí không bao giờ nhầm lẫn[183]. Khổng Tử nói "Người có trí lực bậc trung trở lên có thể dạy cho họ những đạo lý cao sâu. Người có trí lực từ bậc trung trở xuống không thể dạy cho họ những đạo lý cao sâu.[184]". Người có trí không phung phí tiền bạc vào những chuyện mê tín dị đoan, xa hoa, vô ích. Khổng Tử nói "Tang Văn Trọng dựng riêng một ngôi nhà để nuôi một con rùa lớn, quanh cột nhà chạm núi non, xà nhà có khắc hình rong biển. Con người như vậy sao gọi là người trí ?[185]". Bậc trí giả tùy thời mà sống, thời trị thì ra giúp nước, thời loạn thì lánh xa chính trị để gìn giữ thiên lương và bảo toàn sinh mạng. Khổng Tử nói: "Ninh Vũ Tử, khi nước nhà yên ổn thái bình được tiếng là người có đức trí, khi nước nhà loạn lạc bị mang tiếng là ngu đần. Trí như Ninh Vũ Tử thì người khác có thể theo kịp, chứ còn giả ngu đần như Ninh Vũ Tử thì thiên hạ không có cách nào đuổi kịp.[186]". Người lãnh đạo có trí là người dùng hết tâm trí, sức lực làm mọi việc cho dân[171].

  • Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy. Chữ tín vốn nằm trong 4 điều trên, sau này được tách ra để thành Ngũ thường. Tín là thước đo, là sự phản ánh 4 giá trị trên. Khổng Tử nói: "Một người không có chữ tín, không biết có thể làm gì được. Cũng giống như xe lớn không có chốt, xe nhỏ cũng không có chốt, thì làm sao có thể đi được ?[187]". Để giữ được chữ tín thì phải cẩn thận trong lời nói, không hứa hẹn những điều vượt quá khả năng của mình vì như Khổng Tử nói "Người xưa không để khinh suất khi nói ra, bởi sợ xấu hổ vì không thực hiện được lời mình đã nói.[188]".

Những phẩm chất đạo đức này đều có liên hệ với nhau. Hữu Tử nói: "Giữ được chữ tín là đã tiếp cận với nghĩa, có như vậy lời hứa mới thực hiện được. Giữ được cung kính là đã tiếp cận với lễ, có như vậy mới tránh xa được điều sỉ nhục.[189]". Khổng Tử cho rằng "... Người có đức nhân luôn yên tâm làm điều nhân. Người có đức trí ham muốn làm điều nhân.[190]". Khi Nhan Uyên hỏi về đức nhân, Khổng Tử trả lời "Khắc phục ham muốn của mình, nói và làm phù hợp với lễ. Một ngày làm được như thế, người trong thiên hạ sẽ cùng theo về đức nhân. Thực hiện đức nhân hoàn toàn ở mình, không lẽ dựa vào người khác hay sao ?"[191]. Theo Khổng Tử, để thực hiện đức nhân thì "những việc không hợp lễ chớ xem, không hợp lễ chớ nghe, không hợp lễ chớ nói, không hợp lễ chớ làm"[191].

Khổng Tử chia con người thành ba hạng:


  • Thánh nhân: Bậc hiền giả, người thể hiện và chuyển giao minh triết.

  • Quân tử: Người có đạo đức, cao nhã, luôn phấn đấu để làm điều chân chính.

  • Tiểu nhân: Kẻ "hèn mọn", hành động không màng tới đạo đức.

Khổng Tử nói: "Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời, nên không sợ, (mà còn) khinh nhờn bậc đại nhân, giễu cợt lời nói của thánh nhân. Người quân tử ung dung mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không ung dung. Người quân tử luôn thẳng thắn, vô tư. Kẻ tiểu nhân lúc nào cũng lo lắng, u sầu[192].". "Người quân tử thì chẳng lo, chẳng sợ" vì "tự xét mình chẳng có tội ác thì có điều gì phải lo lắng sợ hãi nữa"[193].


Bia tiến sĩ tại Văn Miếu Hà Nội. Những người học giỏi đỗ đạt được khắc tên tuổi, quê quán lên bia đá để lưu danh vào lịch sử, qua đó biểu dương tinh thần học tập và làm gương cho đời sau

Muốn trở thành quân tử tức là người có trí tuệ và đạo đức, trí dũng song toàn thì phải học tập không ngừng suốt cả đời. Học được điều gì thì phải thường xuyên ôn tập[194]. Nho giáo đặc biệt coi trọng học vấn, xem học vấn mang mục đích tự thân để nâng cao phẩm giá con người, để hướng tới Chân Thiện Mỹ chứ không phải là thứ dùng để mưu cầu danh lợi. Chỉ có học vấn mới nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của con người, giúp con người tư duy và hành động đúng đắn. Khổng Tử nói: "Ta đi học là học cho ta, để gây cái phẩm giá của ta, chứ không phải là để khoe với người. Ta chỉ lo không làm được những việc đáng cho người ta biết, chứ không lo người ta không biết mình". "Muốn nhân mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngu, muốn trí mà không muốn học thì bị cái che mờ là cao kỳ, muốn tín mà không muốn học thì bị cái che mờ là hại nghĩa, muốn trực mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngang ngạnh, muốn dũng mà không muốn học thì bị cái che mờ là loạn, muốn cương mà không muốn học thì bị cái che mờ là táo bạo khinh suất.". Cùng học với nhau nhưng chưa chắc cùng đạt đến đạo như nhau. Có thể cùng đạt đến đạo như nhau nhưng chưa chắc kiên định đạo lý như nhau. Có thể kiên định đạo lý như nhau nhưng chưa chắc xử trí cho hợp hoàn cảnh như nhau.[195] Nước có đạo thì lời nói ngay thẳng, việc làm đúng đắn. Nước không có đạo thì việc làm phải đúng đắn còn lời nói phải nhún nhường.[196] Người quân tử học tập sâu rộng về văn chương, biết lấy lễ để ràng buộc mình, sẽ không bao giờ trái với đạo lý[197].

Học thì phải thông qua Văn. Văn là kiến thức được lưu truyền dưới dạng thành vǎn hoặc ở dạng truyền ngôn, bất thành văn. Cức Tử Thành nói "Người quân tử chỉ cần có chất tốt là được rồi, cần gì đến văn nữa". Tử Cống nói "Ngài bàn về quân tử như vậy thật đáng tiếc là không đúng rồi. Một lời nói ra xe bốn ngựa khó mà đuổi kịp (Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy). Văn cũng quan trọng như chất, chất cũng quan trọng như văn. Da hổ, da báo nếu nhổ mất lông đẹp thì làm sao phân biệt được với da chó và da dê ?".[198] Con người không chỉ học tri thức mà còn học các quy tắc xã hội, các giá trị sống do đó vai trò của người thầy là rất quan trọng, đặc biệt là ở tư cách đạo đức. Không chỉ học từ sách vở, trường lớp mà con người còn phải học từ cuộc sống, từ những người xung quanh. Khổng Tử nói "Ba người cùng đi với nhau, trong hai người thế nào cũng có một người đáng làm thầy ta. Ta chọn điều tốt để học theo, còn điều không tốt thì biết để sửa chữa.[199]". Trong sự hình thành trí tuệ và đạo đức của con người, nghệ thuật đóng vai trò tích cực. Khổng Tử nói "Thơ có thể gây hứng khởi tấm lòng ham điều thiện, ghét điều ác. Lễ có thể khiến cho ta lập thân ở xã hội. Âm nhạc có thể giúp ta hoàn thành việc tu dưỡng nhân cách.[200]". Chính vì vậy Khổng Tử đã san định Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Nhạc để lưu truyền văn hóa cổ cho muôn đời sau. Chính những tác phẩm này làm nền tảng cho nền văn học cổ đại và trung đại, góp phần hình thành nên tâm hồn và cảm xúc của các dân tộc Đông Á trong suốt hàng ngàn năm.

Người có học được xem là kẻ sĩ. Tử Lộ hỏi Khổng Tử "Như thế nào mới được gọi là kẻ sĩ ?". Khổng Tử nói "Sống chân thành, khuyên bảo nhẹ nhàng, biết vui vẻ hòa thuận, như vậy được xem là kẻ sĩ. Giữa bạn bè biết chân thành khuyên bảo nhau, anh em biết vui vẻ hòa thuận nhau."[201]. Tử Trương hỏi "Kẻ sĩ như thế nào mới gọi là đạt ?". Khổng Tử trả lời "Đó gọi là văn chứ không phải đạt. Được gọi là đạt phải có phẩm hạnh chính trực, ham làm việc nghĩa, giỏi phân tích lời nói và giỏi quan sát sắc mặt của người khác, đối xử với người khiêm tốn nhường nhịn. Người như vậy làm quan ở triều đình nhất định đạt, ở nhà cũng đạt. Chứ gọi là văn thì bề ngoài tỏ vẻ yêu đức nhân, mà khi làm lại trái đạo nhân, thế mà cứ tưởng mình là người có đức nhân. Loại người này làm quan ở triều đình nhất định có danh tiếng, ở nhà cũng có danh tiếng"[202]. Kẻ sĩ chỉ biết tìm cách cho được an nhàn thì không đủ tư cách làm kẻ sĩ[203]. Đây chính là tư tưởng nhập thế của Nho giáo xem kẻ sĩ có nghĩa vụ dùng học vấn và tài năng của mình giúp nước giúp đời.

Sách Trung Dung đã tổng kết lại những điều mà người quân tử, mẫu người tài đức vẹn toàn theo quan điểm Nho giáo, nên làm:


"Người quân tử vừa ra sức coi trọng đạo đức vốn có của mình, vừa ra sức chăm lo học tập; vừa phấn đấu đạt đến tầm rộng lớn của đạo, vừa nắm hết chỗ tinh vi tận cùng của đạo. Muốn có được đạo đức cao minh, phải thông hiểu đạo lý trung dung, ôn tập những kiến thức đã nắm chắc, từ đó mà thu hoạch thêm những kiến thức mới; trung hậu, chất phác, giản dị lại ham chuộng lễ nghi nghiêm túc. Khi ở ngôi cao thì không kiêu ngạo, khi làm kẻ dưới thì chẳng dám gây điều trái nghịch, bất chấp lễ nghĩa. Khi nước có đạo, người quân tử có thể ra giúp nước, nghĩ mưu kế để khiến nước nhà hưng thịnh. Khi nước không có đạo, người quân tử có thể dựa vào trí sáng suốt của mình, tránh cho mình khỏi bị tai ương họa hại.[204]". Vậy nên "người quân tử nhất cử nhất động đều làm gương cho thiên hạ đời đời noi theo, mọi hành vi đều trở thành phép tắc cho thiên hạ đời đời ngưỡng mộ, mọi lời nói đều trở thành khuôn vàng thước ngọc cho thiên hạ đời đời học tập. Kẻ ở xa nghe nói thì đem lòng ngưỡng vọng. Người ở gần thì nhìn mãi không biết chán."[205]

"Đạo người quân tử là che đậy đức hạnh đi, không để lộ ra ngoài, nhưng nó càng ngày càng tỏa sáng thêm. Đạo của kẻ tiểu nhân thì sặc sỡ, cố để lộ ra ngoài, nhưng nó mỗi ngày một mất dần, mỗi ngày một lu mờ đi. Đạo người quân tử bình dị nhưng không làm cho người ta chán, tuy giản dị nhưng có văn nhã, tuy ôn hòa nhưng có lý lẽ. Nếu hiểu đạo lý muốn đi xa phải bắt đầu từ nơi gần, hiểu phong tục được sinh ra là có nguồn gốc, hiểu rõ sâu kín nhất vẫn có ngày hiện lộ ra, được như vậy là có thể tiến vào cõi chí thiện của thánh nhân rồi.[206]".

Phàn Trì theo Khổng Tử đi dạo dưới chân đài cầu mưa Vũ Vu, hỏi rằng "Dám hỏi làm thế nào để tu dưỡng đạo đức, diệt trừ lòng ác, phân biệt mê hoặc". Khổng Tử nói "Câu hỏi hay quá ! Làm việc thiện trước mà không nghĩ lợi về sau, đây không phải là tu dưỡng đạo đức ư ? Phê bình điều sai của mình, không chỉ trích điều sai của người khác, đây không phải là trừ bỏ lòng ác ư ? Chỉ vì nhất thời phẫn nộ mà quên mất chính mình, thậm chí liên lụy đến cả cha mẹ, đây không phải là mê hoặc ư ?"[207].

Không những phải có đầy đủ phẩm chất đạo đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mà con người còn phải luôn thành thật với chính mình, biết tiết chế, kiểm soát hành vi và ý nghĩ của mình. Sách Đại học viết: "Thành ý khiến cho ý niệm được thành thật. Muốn cho ý niệm được thành thật, trước hết mình không được lừa dối mình... người quân tử khi ở một mình cũng cần phải giữ mình hết sức cẩn thận, tự kiểm tra, chất vấn và làm chủ bản thân... Tài sản có thể làm đẹp nhà cửa. Đức hạnh có thể làm đẹp bản thân. Tâm tư quảng đại thì cử chỉ, thái độ thong dong, thoải mái. Cho nên, người quân tử lúc nào cũng phải làm cho ý niệm của mình được thành thật."[208]. Ai làm được như vậy sẽ ít phạm sai lầm. Khổng Tử nói "Người biết ràng buộc gìn giữ mình mà phạm sai lầm là rất ít thấy.[209]".

Trong mối quan hệ với mọi người, con người cần giữ phép lịch sự, trang trọng mà thành thật, cần tránh kết giao với kẻ tiểu nhân để không bị lây nhiễm thói xấu và để tự bảo vệ mình không bị kẻ khác hãm hại. Người quân tử có sai lầm cũng không ngại sửa chữa. Khổng Tử nói: "Người quân tử nếu không có thái độ trang trọng thì không giữ được uy nghiêm, có học tập cũng không củng cố được thành quả đã học. Làm người phải lấy trung tín làm chính. Không kết giao bạn bè với người chẳng như mình. Có sai lầm không sợ sửa chữa.[210]". Người quân tử luôn khiêm tốn, cầu thị và không chấp nhặt những lời cuồng ngôn của kẻ tiểu nhân vì người quân tử không hành động để thỏa mãn cái tôi của mình. Tăng Tử nói "Mình làm được lại đi hỏi người không làm được, mình biết nhiều mà lại đi hỏi người biết ít. Có tài học mà lại giống như không, tri thức đầy đủ mà lại như không có gì. Người khác xúc phạm mình mà mình cũng không tranh biện. Bạn của ta từ trước đã từng làm được như vậy.[211]". Khổng Tử nói "Người quân tử ung dung, khoan thai nhưng không kiêu ngạo, phóng túng. Kẻ tiểu nhân ngạo mạn, phóng túng nhưng không có tác phong đàng hoàng."[212].

Cách sống thanh cao của con người mà Nho giáo khuyến khích là không màng danh lợi, làm việc hết lòng, lời nói thanh nhã, luôn tu tâm dưỡng tính, gần gũi với người có đạo đức. Khổng Tử nói: "Người quân tử có chí học đạo, không theo đuổi việc ăn uống no say mà cầu được thoải mái và sống cuộc đời an nhàn, làm việc với tinh thần mẫn cán, lời nói hết sức cẩn thận, luôn gần gũi người có đức để không ngừng sửa chữa khuyết điểm của mình. Làm được như vậy, có thể nói là người ham học và học đạt kết quả tốt.[213]". Người quân tử phải giữ tư cách đạo đức của mình; luôn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người; luôn tĩnh tâm để đánh giá khách quan con người và cuộc đời; thắng không kiêu bại không nản; nghèo hèn không bất mãn, không bi quan yếm thế, không buông xuôi, không quy lụy; giàu sang không kiêu căng khinh người. Đó là sức mạnh tinh thần chân chính của người quân tử. Tử Cống hỏi: "Nghèo hèn mà không nịnh bợ người, giàu có mà không kiêu căng khinh người, như vậy đã được chưa ?". Khổng Tử nói: "Có thể được, nhưng không bằng nghèo hèn mà vẫn lạc quan, giàu có mà lại chuộng lễ nghĩa.".[214] Tử Trương hỏi cách thức để đề cao được phẩm đức, Khổng Tử nói "Lấy trung hậu và tín thật làm chính, tận lực làm việc nghĩa, làm được như vậy là đề cao phẩm đức.[215]". Nho giáo khuyến khích lối sống tiết kiệm, không phô trương vì phô trương giàu sang không làm nên phẩm giá con người. Khổng Tử nói "Xa xỉ rộng rãi quá thì không thuận mắt. Tiết kiệm quá thì trở nên keo kiệt bủn xỉn. Nếu không có đủ để rộng rãi thì thà tiết kiệm còn hơn.[216]". Người quân tử không tham lam, phải biết thế nào là đủ, biết hài lòng với những gì mình có. Khổng Tử khen công tử Kinh nước Vệ là người khéo cư xử việc nhà. Vừa mới có của ông ấy đã bảo "Như vậy là phù hợp rồi". Vừa có thêm được một ít ông ấy đã bảo "Như vậy là đầy đủ rồi". Về sau giàu có ông ấy bảo "Thế là sướng quá rồi".[217]

Để giữ được sự tín nhiệm của mọi người, con người hàng ngày phải tự xét xem mình đã làm việc hết lòng và giữ chữ tín với mọi người chưa. Tăng Tử nói: "Tôi mỗi ngày tự xét mình ba điều. Mưu việc cho người khác đã dốc hết sức lực, tâm trí chưa? Cùng kết giao với bạn bè đã thật giữ điều tín chưa? Tri thức thầy truyền cho đã ôn tập cẩn thận, chu đáo chưa?"[218]. Con người phải không ngừng tự vấn lương tâm, trừ bỏ những suy nghĩ, ý định xấu xa ngay khi vừa nhen nhóm chứ không để nó biến thành hành động để mọi người đều tôn kính tin theo. Sách Trung Dung viết "người quân tử tự xét nơi lương tâm của mình, nếu thấy có ma tà quỷ ám, có đến làm điều ác, thì tự biết hổ thẹn. Người quân tử khi sửa mình mà thấy điều bất cập thì chỉ mình biết, chứ người bình thường không thể nhìn thấy được... Cho nên người quân tử chưa hành động mà vẫn được người ta tôn kính, chưa nói ra mà người ta đã tin theo.[219]". Không những vậy "Nhìn thấy người hiền tài liền nghĩ đến noi gương phấn đấu kịp bằng họ, nhìn thấy người chẳng hiền tài thì phải tự kiểm tra lại mình.[220]". Tuy nhiên, không phải ai cũng làm được điều này. Khổng Tử có lần cảm thán "Hết rồi, chẳng còn gì nữa! Ta chưa từng thấy người nào có thể phát hiện sai lầm của mình, lại còn biết tự kiểm điểm sai lầm của mình từ tâm can.[221]".

Khổng Tử nói "Làm việc với người quân tử thì dễ còn muốn được lòng người quân tử thì rất khó. Nếu dùng cách không chính đạo để lấy lòng người quân tử thì người quân tử chẳng thích. Còn khi dùng người thì người quân tử lại theo tài năng đạo đức mà giao việc. Làm việc với kẻ tiểu nhân thì rất khó nhưng muốn được lòng kẻ tiểu nhân lại rất dễ. Để tranh thủ được lòng kẻ tiểu nhân dù cho có dùng cách không chính đạo thì kẻ tiểu nhân vẫn thích. Còn khi dùng người thì kẻ tiểu nhân lại đòi cho được hoàn hảo.".[222]

Chính vì khéo cư xử nên người có đạo đức không bao giờ bị cô lập, nhất định có bè bạn gần gũi thân thiết[223]. Tử Cống hỏi "Người cả làng đều khen thì người ấy là người như thế nào ?". Khổng Tử nói "Chưa hẳn là người tốt". Tử Cống lại hỏi "Người cả làng đều ghét thì người này là người như thế nào ?". Khổng Tử nói "Chưa hẳn là người xấu. Không bằng người thiện trong làng khen, kẻ ác trong làng ghét, mới có thể cho là người tốt.".[224] Tuy nhiên người bàn luận đạo lý nhiều cũng phải kiểm tra xem người này có phải là quân tử chân chính hay không hay chỉ là người có vẻ ngoài trang trọng ?[225] Người có đức nói đều có đạo lý nhưng người nói có đạo lý chưa chắc đã có đức[226].


Trạng Lường Lương Thế Vinh (1441-1496), một nhà Nho nổi tiếng tài trí trong lịch sử Việt Nam

Để có thể hoàn thiện bản thân, đạt đến tầm cao trí tuệ và đạo đức, mỗi cá nhân phải nỗ lực không ngừng với một nghị lực lớn lao. Khổng Tử dạy học trò "Ví như lấy đất đắp núi, nếu thêm một sọt nữa liền thành núi, nhưng đột nhiên ta dừng không thêm vào nữa, như vậy là do ta tự dừng lại. Lại ví như đắp núi ở nơi bằng, dù vừa đổ xuống một sọt đất, nếu ta tiếp tục tiến lên đắp cho thành núi, đó là tự mình muốn tiến đến thành công vậy.[227]". Nhiễm Cầu thưa "Không phải con không thích đạo của thầy, mà là sức lực của con không đủ đấy thôi.[228]". Khổng Tử nói "Nếu sức lực không đủ, nửa đường sẽ phải bỏ dở. Như vậy ngươi đã tự vạch ra mốc giới hạn để hạn chế mình, về cơ bản là không muốn tiến lên nữa.[228]".

Tuổi trẻ phải biết phấn đấu học tập, rèn luyện, tu dưỡng bản thân, tiến thân lập nghiệp, làm điều có ích cho xã hội. Khổng Tử nói "Những người sinh sau rất đáng sợ (hậu sinh khả úy), biết đâu tương lai của họ không bằng hiện nay ? Nếu họ đến chừng bốn mươi, năm mươi tuổi rồi mà vẫn chưa có tiếng tăm gì trong thế gian, như vậy không có điều gì phải sợ họ nữa.[229]". Tuy nhiên, việc theo đuổi những dục vọng cá nhân mà quên đi đạo lý, không màng đến tu tâm dưỡng tính là sự buông thả của người thiếu ý thức hướng thiện, thiếu nghị lực hoàn thiện bản thân. Khổng Tử nói "Thân Trành, con người này dục vọng quá nhiều, làm sao có thể xếp vào loại người kiên cường được ?[230]". Kinh Pháp Cú của Phật giáo cũng có ý tương tự "Dầu tại bãi chiến trường thắng ngàn ngàn quân địch, tự thắng mình tốt hơn, thật chiến thắng tối thượng. Tự thắng mình còn vẻ vang hơn thắng kẻ khác. Muốn thắng mình phải luôn luôn tiết chế lòng tham dục.[231]".

Người có đạo đức và trí tuệ cao hơn quân tử là thánh nhân. Quân tử là người thực hành các đạo lý do thánh nhân truyền dạy còn thánh nhân là người thông hiểu đạo lý trời đất; người có thể soạn ra cương lĩnh, biện pháp lớn để quản lý thiên hạ. Sách Trung Dung viết:


"Chỉ có bậc chí thánh trong thiên hạ mới có đủ: Tài trí thông minh, nhìn xa thấy rộng, đủ sức để cai trị thiên hạ. Có lòng khoan dung độ lượng đủ để bao dung dân chúng và vạn vật. Tính tình cương nghị quyết đoán đủ để cầm nắm việc chính sự. Thái độ đoan chính ngay thẳng để mọi người kính nể. Văn chương điển lý tinh tế, xét đoán minh bạch đủ để phân biệt phải trái. Đạo đức của bậc chí thánh rộng lớn, sâu xa vô bờ bến, bao la rộng lớn như trời cao, sâu như vực thẳm. Hễ xuất hiện, dân chúng không ai không mến phục. Hễ nói ra, dân chúng không ai không tin cậy. Hễ hành động, dân chúng không ai không thích thú, hài lòng... Chỉ có bậc thánh nhân có đức thật cao cả mới có thể soạn ra được cương lĩnh, biện pháp lớn để quản lý thiên hạ, xây dựng bồi đắp cái gốc lớn cho thiên hạ, thông hiểu hết đạo lý trời đất nuôi dưỡng vạn vật. Bậc thánh nhân chỉ dựa vào sức mình, không nương nhờ ai cả. Nhân ái của bậc thánh nhân cao cả thuần khiết, trí tuệ xiết bao uyên bác thâm thúy, thiên tính đàng hoàng cao rộng như trời. Nếu không phải là người vốn đủ thông minh, thánh trí, thông đạt thiên đức, thì ai có thể hiểu được đạo thành thật cao cả này?[232]".

Giáo sư Vũ Khiêu đã nhận xét: "Nho giáo đã nhận thức được thực tế là những người trong bộ máy nhà nước mà mất đạo đức thì không thể cai trị được nhân dân. Đạo đức người cầm quyền có ảnh hưởng lớn đến sự hưng vong của một triều đại. Vì vậy, Khổng Tử khuyên người cầm quyền phải "tu thân" để làm tấm gương cho người dưới. Với việc đề cao tu thân, Nho giáo đã tạo nên một lớp người sống có đạo đức. Trong lịch sử dân tộc Việt nam đã có nhiều tấm gương sáng ngời về đạo đức Nho giáo của các vị vua, các anh hùng hào kiệt. Theo Nho giáo, người làm quan phải có đức, phải lấy nhân nghĩa, lấy chữ tín làm mục tiêu để cảm hóa lòng người, để cai trị. Muốn vậy, phải đặt lợi ích của thiên hạ lên trên lợi ích của vua quan. Thiết nghĩ, ngày nay tư tưởng nêu trên vẫn còn nguyên giá trị. Người cán bộ trong bộ máy nhà nước phải có đức, đó là điều kiện đầu tiên để dân tin yêu, kính phục. Nho giáo coi những người làm quan mà hà hiếp dân là độc ác, để dân đói rét là nhà vua có tội. Nho giáo đã đề cao việc cai trị dân bằng đạo đức, bằng nhân nghĩa, bằng lễ giáo. Muốn thực hiện được đường lối đức trị, người cầm quyền phải luôn "tu, tề, trị, bình"".[233]

Trong Nho giáo, "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín" được đặt ra trong quan hệ của con người với chính bản thân mình để tu thân, còn chính danh là yêu cầu đạo đức được đặt ra trong quan hệ với người khác (với xã hội) để làm cho xã hội ổn định, phát triển. Những quan niệm này của Nho giáo cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa thời sự của nó. Trong điều kiện hiện nay, khi mối quan hệ của con người với con người càng được mở rộng, khi xã hội đang có những biểu hiện xuống cấp về mặt đạo đức, tệ quan liêu, hối lộ, tham nhũng đang diễn biến phức tạp, thì tư tưởng về đạo làm người trong mối quan hệ với xã hội của Nho giáo lại càng có ý nghĩa, góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi người để xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn[234]


Tư tưởng về Thế giới đại đồng[sửa | sửa mã nguồn]


Khổng Tử đã khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản là nền móng của xã hội ổn định. Ông từng nói: "Thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu chỉ sợ có không đều". Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử tiếp tục tư tưởng này và đề ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ sự phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động đối với người lớn, sự nghỉ ngơi của người già.

Tư tưởng này được nói rõ trong thiên Lễ vận thuộc Kinh Lễ: "Đạo đức lớn được thực hành thì thiên hạ là của chung. Kén chọn kẻ có tài đức ra làm việc. Giảng giải điều tín nghĩa, sửa trị điều hoà mục. Cho nên mọi người không riêng thân cha mẹ mình, không riêng yêu con cái mình, khiến người già cả có chỗ sử dụng năng lực, các thiếu niên được nuôi dạy khôn lớn. Thương người goá bụa, thương kẻ mồ côi và những người già không nơi nương tựa. Người tàn tật phải có chỗ nuôi dưỡng, con trai đều có nghề nghiệp, con gái đều có chồng con. Như vậy thì của cải vứt bỏ dưới đất cũng không ai nhặt mà cũng không cần thiết phải cất giữ cho riêng mình. Còn về năng lực thì e không có cách gì để thi thố mà không cần phải giữ làm của riêng. Do đó mọi âm mưu đều bị mai một mà không thể xảy ra, mọi hành vi trộm cắp, gây rối, giặc cướp đều không thể nổi dậy, cửa ngõ không cần đóng. Như thế gọi là Đại đồng."

Nho giáo đã trình bày tương đối hoàn chỉnh, có hệ thống về thuyết đại đồng: “Thiên hạ vi công” (Thiên hạ là của chung mọi người), “Tuyển hiền nhiệm năng” (Lựa chọn người hiền, sử dụng người tài), “Các tận kỳ năng” (Ai nấy dốc hết năng lực của mình), “Giảng tín tu mục” (Trọng điều tín, chăm lo sự hòa mục), “Các tận kỳ sở” (Ai nấy đều được nhận tương xứng với công sức của mình)[235].

Nhà cách mạng Hồ Chí Minh từng tổng kết: "Những người An nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lenin”[236]


Triết lý giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]


Đạo trị quốc của Nho giáo rất xem trọng hiền tài chính vì thế các triều đại quân chủ tôn sùng Nho giáo chủ trương tuyển dụng nhân tài cho đất nước qua các kỳ Khoa bảng (科榜). Các thí sinh đỗ đạt học vị trong các kỳ thi cử này, phần lớn được tuyển chọn làm quan chức cho triều đình.

Một trong những điểm tiến bộ của Nho giáo là chủ trương khuyến khích giáo dục, coi trọng người hiền tài:.




Các thí sinh dự thi khoa bảng nếu đỗ sẽ được nhận áo mũ vua ban. Vinh dự này có tác dụng rất tốt trong việc khuyến học cho xã hội, tạo ra người tài cho đất nước

Nho giáo có nhiều yếu tố tiến bộ khi quan niệm rằng giáo dục là cần thiết cho tất cả mọi người, "hữu giáo vô loại" (việc dạy dỗ không phân biệt loại người) nên ai cũng có cơ hội được học tập và giáo dục, đây là biện pháp để hướng con người tới những phẩm chất cao quý như "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín". Nho giáo cho rằng, giáo hóa con người là một trong những nhiệm vụ cơ bản của nhà cầm quyền và cũng là phương tiện hữu hiệu để đưa xã hội từ loạn lạc thành "thái bình thịnh trị"[237].

Trước thế kỷ V, cách tuyển chọn quan chức ở Trung Quốc chủ yếu là theo “cửu phẩm trung chính chế”, tức là chủ yếu dựa vào hoàn cảnh xuất thân, vì thế, con em của các nhà quý tộc luôn được chọn vào các bậc quan cao, gây lũng đoạn chính sách địa phương. Chế độ khoa cử đã đánh đổ điều này, thúc đẩy một số đông người từ tầng lớp bình dân chuyển lên tầng lớp trên, từ đó đảm bảo được sự đổi mới của đội ngũ quan lại. Một là tầng lớp nhà nho kinh điển bước vào hệ thống quan lại để thực hiện lý tưởng "trị quốc bình thiên hạ", mặt khác, do xuất thân ở tầng lớp dưới của xã hội, họ có thể hiểu được nỗi khổ của nhân dân và những cái xấu tốt, lợi hại trong việc cai trị, trong một mức độ có thể giảm bớt những sự hư hỏng, hạn chế hủ bại của chế độ. Do đã tiếp thu giáo dục văn hoá có hệ thống, nắm vững những tri thức lý luận về phương pháp quản lý quốc gia, được bồi dưỡng đạo đức tương đối tốt, đội ngũ quan lại có trình độ tương đối cao, có lợi cho việc nâng cao hiệu suất hành chính. Nhờ hệ thống khoa cử các quốc gia Đông Á thời trung cổ được cai trị bằng một tầng lớp tinh hoa có học vấn cao, không phân biệt xuất thân chứ không phải bằng một tầng lớp quý tộc cha truyền con nối như tại phương Tây.

Chế độ khoa cử bắt đầu từ nhà Tuỳ, định kỳ tiến hành những cuộc thi, thông qua những cuộc thi mà tuyển chọn quan chức, biện pháp này cũng gọi là “khai khoa cử sĩ” (mở khoa thi, chọn quan lại), kết thúc vào đời Thanh, tồn tại trong xã hội Đông Á hơn 1400 năm, nó đã có ảnh hưởng to lớn với sự phát triển của xã hội Đông Á. Chế độ khoa cử có tính cạnh tranh bình đẳng nhất định về trình độ, có ích cho sự thống nhất và phổ cập văn hoá, cho việc ổn định và củng cố sự thịnh trị của các vương triều nên nó rất được coi trọng, bất kỳ hành vi gian lận nào đều bị trừng phạt rất nghiêm khắc. Nhiều triều đình còn cho dựng bia đá, chép sách lưu danh Tiến sĩ để nêu gương muôn thuở.

Những người đố đạt được triều đình ban thưởng rất hậu và cho làm quan, gia đình dòng họ thì tự hào vì đã làm rạng rỡ tông môn. Người không đỗ đạt thì ở nhà dạy học, bốc thuốc, trở thành những người truyền bá văn hoá, tạo thành một xã hội có phong tục tốt đẹp và truyền thống hiếu học.



Do giáo dục được coi trọng, người có kiến thức và văn hóa được xã hội tôn trọng. Từ xưa đến nay, dù là quý tộc hay dân thường, dù giàu hay nghèo thì đều tìm mọi cách đưa con cháu đi học để thành người có đạo đức và tri thức. Địa vị của người thầy rất cao, dân gian có nhiều cách nói về tôn trọng người thầy, ví dụ như “Tôn sư bất luận quý tiện bần phú” (bất kể giàu nghèo sang hèn đều phải tôn trọng người thầy), “nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ” (Một ngày làm thầy, cả đời làm cha)... Từ thường dân đến hoàng đế đều rất tôn trọng người thầy, thể hiện trong mọi mặt cuộc sống xã hội. Hiện nay, một số nước như Trung Quốc chọn ngày 10/9, Đài Loan chọn ngày 28/9, Việt Nam chọn ngày 20/11... làm Ngày Nhà giáo để thể hiện sự tôn trọng đối với nghề giáo. Ví dụ, Ngày Nhà giáo tại Đài Loan là một ngày lễ rất lớn, được tổ chức ở hầu khắp các đền thờ Khổng Tử, lễ này còn được gọi là Tế Khổng Đại Điển (祭孔大典), được chỉ đạo tổ chức bởi hậu duệ đứng đầu dòng họ Khổng của Khổng Tử (người này được chính quyền Đài Loan tặng chức vụ danh dự "Đại thành chí thánh tiên sư phụng tự quan" và cấp ngân sách cho việc tế tự Khổng Tử). Trong buổi lễ luôn có phần trao giải thưởng cho các nhà giáo có nhiều cống hiến quý giá cho nền giáo dục.

Khổng Tử là nhà giáo dục vĩ đại. Ông tin rằng giáo dục có sức mạnh thay đổi thế giới chẳng kém gì quyền lực chính trị. Có người hỏi ông tại sao không ra làm quan, tham dự hoạt động chính trị. Khổng Tử trả lời: "Sách Kinh Thi có nói: Chỉ có hiếu thuận với cha mẹ, thân ái với anh em, đem tinh thần này phổ biến ra nơi chính trường. Như vậy cũng là đã tham dự chính trị rồi, sao cứ phải ra làm quan mới là tham dự chính trị ?[238]". Trên thực tế chính trị gia dùng quyền lực của mình bắt xã hội đi theo con đường họ cho là đúng với mong muốn xây dựng xã hội tốt đẹp hơn nhưng cái họ tạo ra có khi là thứ tồi tệ hơn. Không quyền lực chính trị nào đủ mạnh, không bộ máy nhà nước nào đủ hiệu quả để có thể buộc cả xã hội phải sống theo những tiêu chuẩn do người lãnh đạo đề ra. Trong khi đó chính bản thân người lãnh đạo lại không sống đúng theo những chuẩn mực mà ông ta muốn người khác tuân thủ. Khi người dân từ chối sống theo cách nhà nước áp đặt, họ sẽ dùng mọi biện pháp gian dối để đối phó, để sống theo cách phù hợp với họ. Đạo đức xã hội suy đồi. Trong khi đó chính giáo dục sẽ khiến dân chúng giác ngộ và tự thay đổi cho tốt đẹp hơn. Mỗi người tốt hơn thì xã hội tốt hơn.

Triết lý giáo dục của Nho giáo chủ trương giáo dục toàn diện để tạo ra con người hoàn thiện, tài đức vẹn toàn chứ không phải đào tạo thiên lệch để tạo ra loại người chuyên làm một công việc nào đó. Khổng Tử nói: "Người quân tử không thể giống như khí cụ là chỉ có một tác dụng.[239]". Quan niệm giáo dục này tương đồng với quan niệm giáo dục khai phóng của phương Tây. Điều này trái ngược với ngộ nhận của nhiều người cho rằng nền giáo dục Nho giáo có mục đích tạo ra những người cai trị quốc gia còn người học chỉ có mong muốn duy nhất là làm quan. Đó là hiện tượng do cách tuyển dụng quan lại thông qua khoa cử của các triều đình quân chủ tạo ra chứ không bắt nguồn từ triết lý giáo dục Nho giáo. Khổng Tử nói "Học ba năm mà chẳng để chí vào việc cầu bổng lộc, chẳng dễ mà có được người như vậy.[240]". Ông khuyên học trò của mình "Dốc lòng tin tưởng vào đạo và ham học, biết dùng sinh mệnh để bảo vệ sự hoàn thiện của đạo. Không đến những nước đang có nguy hiểm, không ở những nước đang có loạn lạc. Thiên hạ có đạo thì ra làm quan, thiên hạ vô đạo thì về ở ẩn.[241]". Đó cũng là nghệ thuật sống của các bậc danh Nho, hiền sĩ ở các nước Đông Á thời quân chủ. Điều này cho thấy Nho giáo nguyên thủy không chủ trương đào tạo ra những kẻ trung thành mù quáng với nhà cầm quyền, xu phụ kẻ quyền thế để trục lợi mà tạo ra những người có tư cách biết dùng tài năng của mình giúp nước giúp đời, biết xa lánh những kẻ quyền thế nhưng vô đạo.

Nho giáo là một hệ thống quy tắc đạo đức nên quan điểm giáo dục Nho giáo luôn đề cao Đức dục. Đức dục phải được đặt lên trên Trí dục. Trẻ em cần phải học đạo đức trước rồi mới học kiến thức về tự nhiên và xã hội. Khổng Tử nói: "Tuổi trẻ muốn nên người, ở nhà cần phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài phải tôn kính người hơn tuổi mình, hành vi phải cẩn thận, lời nói phải giữ điều tín, yêu thương rộng rãi mọi người, biết gần gũi người có đức nhân. Làm được vậy rồi, nếu còn dư năng lực, thời gian thì học tập tri thức.[242]". Học phải đi đôi với hành. Người có học nếu không sống có đạo đức theo những gì đã được dạy thì việc học có ích gì? Khổng Tử nói: "Ta cả ngày dạy Nhan Hồi học. Nhưng từ trước đến nay, Nhan Hồi chưa hề thắc mắc một ý nào trái với ý ta, nó giống như một kẻ ngu đần vậy. Nhưng ta đã quan sát điều ăn nết ở riêng của trò Hồi, phát hiện thấy trò Hồi phát huy hết mức những điều ta đã giảng. Nhan Hồi đâu phải là kẻ ngu đần![243]". Đối với đạo, hiểu đạo lý không bằng ham thích đạo lý, ham thích đạo lý không bằng thi hành đạo lý mà lấy đó làm niềm vui[244]. Nhà Nho đánh giá một người có giáo dục tốt hay không trước hết là qua tư cách đạo đức người đó (còn kiến thức có thể học sau), như Tử Hạ nói:


"Biết tôn trọng người hiền tài thay cho tôn trọng nữ sắc, biết đối đãi với cha mẹ tận tâm tận lực, biết thờ vua với tinh thần liều chết quên mình, giao lưu cùng bạn bè biết nói lời tín thật. Những người như vậy tuy không được học vẫn xem như là người đã có học rồi.[245]".

Phương pháp học tập mà Nho giáo đề cao không phải là học thuộc lòng, tầm chương trích cú mà là nghiên cứu, nghiền ngẫm thấu đáo để thấu hiểu đạo lý nhân sinh, nguyên lý của vạn vật. Khổng Tử nói: "Học mà không suy nghĩ sẽ chẳng có thu hoạch gì, chỉ suy nghĩ mà không học sẽ rất nguy hiểm.[246]". Người không học không thể phân biệt đúng sai, phải trái nên sẽ dùng trí thông minh của mình làm chuyện vô đạo, hại người hại mình. Học phải có sự trao đổi, tranh luận để đi đến chân lý, học phải đi đôi với hành và phải luôn luôn kiên trì, nỗ lực. Sách Trung Dung có đoạn "Trừ khi không chịu học, đã học mà chưa hiểu thì chưa dừng lại, nếu đã chịu hỏi mà chưa rõ, đã chịu suy nghĩ mà chưa tìm ra giải pháp, đã tranh luận mà chưa ra nhẽ, đã chịu làm theo mà chưa tốt, thì đều chưa dừng lại. Người khác làm một lần, mười lần mà có thể đạt được, mình hãy bỏ công một trăm lần, một nghìn lần. Nếu chịu làm theo phương pháp này, thì dù cho có ngu độn đến mấy cũng trở thành thông minh, dù cho có nhu nhược đến mấy cũng trở nên cứng rắn.[247]". Người học phải biết ứng dụng kiến thức lĩnh hội được từ sách vở vào cuộc sống. Khổng Tử nói "Học thuộc Kinh Thi ba trăm bài, khi được giao giải quyết chính sự thì làm không nổi; đi sứ nước ngoài thì không ứng đối nổi. Học nhiều như vậy có ích gì ?[248]".


Một lớp học chữ Nho vào khoảng năm 1895 ở Việt Nam

Khổng Tử đề cao tinh thần dân chủ trong giáo dục. Học sinh không được thụ động nghe thầy giảng, không hiểu cũng không dám hỏi mà phải biết thắc mắc, thậm chí phản biện lại thầy. Ông nói "Kẻ nào không ấm ức vì chưa hiểu được, thì ta chẳng gợi mở cho mà thông hiểu được. Kẻ nào không hậm hực vì không bày tỏ ý kiến ra được, thì ta chẳng hướng dẫn cho mà nói được. Người học đã biết rõ một góc mà chẳng biết xét để biết ba góc kia thì ta chẳng dạy cho kẻ ấy nữa.[249]". Trong quá trình thảo luận, cả thầy lẫn trò sẽ học hỏi lẫn nhau để cùng tiến bộ. Ông nhận xét về Nhan Hồi "Nhan Hồi không phải là người có thể giúp ta mở mang kiến thức. Không có lời nào ta nói mà trò ấy không thích[250]". Phương pháp này có thể áp dụng với mọi môn học trong mọi thời đại mà không lo bị lạc hậu. Thực chất, những nhược điểm của nền giáo dục Nho giáo tại một số nước châu Á như giáo điều, tầm chương trích cú, xa rời thực tế... không phải bắt nguồn từ triết lý đào tạo của Nho giáo mà bắt nguồn từ nội dung khoa cử chuộng cổ văn do triều đại phong kiến quân chủ đặt ra, nếu áp dụng nội dung thi mới thì nhược điểm này sẽ không còn (ví dụ như nho giáo Nhật Bản đã tạo ra tầng lớp trí thức có chất lượng cao vào thời kỳ Minh Trị duy tân thế kỷ XIX khi triều đình cử họ ra nước ngoài học tập kiến thức mới). Quan niệm giáo dục của Khổng Tử cách đây hàng ngàn năm tương đương với quan niệm giáo dục dân chủ hiện nay.

Không những vậy, người học còn phải thường xuyên ôn luyện những điều đã học, tự suy ngẫm để tìm ra những chân lý mới mà thầy chưa dạy. Đây gọi là học một hiểu mười. Ai làm được vậy có thể làm thầy. Khổng Tử nói: "Ôn tập những tri thức đã học mà có thêm hiểu biết mới, như vậy là có thể làm thầy được rồi.[251]". Trong việc học tập phải luôn có thái độ cầu thị, không giấu dốt, sẵn sàng tiếp thu chân lý. Chỉ như vậy mới có thể không ngừng tiến bộ. Khổng Tử nói: "Trò Do ! Ta dạy ngươi đạo lý như thế nào được gọi là biết, ngươi đã hiểu chưa ? Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế cũng là người thông minh có hiểu biết rồi vậy.[252]". Không được cái gì cũng không biết mà cứ tỏ vẻ ra cái gì cũng biết. Phải biết lắng nghe nhiều phía, nhiều mặt, chọn điều hợp lý mà làm; phải quan sát nhiều phía, nhiều mặt, ghi nhớ kỹ trong tâm can, như vậy mới có được tri thức[253]. Khổng Tử nói "Khi học tập tri thức thì phải giống như đang đuổi theo một cái gì, sợ đuổi không kịp, và dù cho có đuổi kịp cũng lại sợ mất đi.[254]". Tinh thần học tập của Nho giáo có thể khái quát trong câu nói của Khổng Tử "Buổi sáng biết được chân lý thì dù cho buổi chiều có chết cũng cam tâm.[255]".

Việc bãi bỏ chế độ khoa cử, bên cạnh mặt tích cực là tiếp thu kiến thức khoa học công nghệ, song cũng đã tạo nên sự bại hoại đạo đức tác phong trong xã hội. Trong chế độ khoa cử, tầng lớp thân sĩ luôn nghĩ đến “trị quốc bình thiên hạ”, “thiên hạ hưng vong sĩ phu hữu trách”. Họ trọng nghĩa khinh lợi, hành vi cầu nhân, cầu trí của họ có tác dụng gương mẫu trong xã hội. Nhưng sau khi chế độ khoa cử bị bãi bỏ, việc thi cử bị buông lỏng ky cương, dẫn tới nạn gian lận học vấn, bằng cấp trở nên phổ biến. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kỳ cận đại, địa vị của thương nhân dần được nâng cao, chế độ tư bản ngày càng khuyến khích tư lợi, trở thành tiêu chuẩn hành vi trong xã hội. Thân phận của thân sĩ không còn được coi trọng, những quan niệm giá trị “trọng nghĩa hơn lợi” truyền thống ngày càng bị thay thế bằng lối sống “vì lợi quên nghĩa”, do đó, sự hủ bại trong hệ thống quan lại càng nghiêm trọng thêm, quan hệ xã hội ngày càng bị đảo lộn, ảnh hưởng của nó ở Trung Quốc và Đông Á đến nay còn thấy rõ.



Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]


Lịch sử Trung Quốc ghi lại nhiều tấm gương các Nho sĩ tận tâm với đất nước như vậy. Tiêu biểu là thừa tướng Văn Thiên Tường, người lãnh đạo Nam Tống chống lại sự xâm chiếm của Mông Cổ. Lúc còn nhỏ, Văn Thiên Tường chăm học, đọc nhiều sách và thích nhất là những câu chuyện nói về "Trung thần nghĩa sĩ", tư tưởng yêu nước đã ăn sâu vào tâm hồn ông. Sau khi bị bắt, vua Mông Cổ ra sức đem cả quyền thế và vũ lực để ép ông đầu hàng nhưng ông vẫn không khuất phục. Sau khi bị hành quyết, mọi người đã phát hiện có một tờ giấy quấn quanh đai lưng của thi thể ông, tờ giấy đã được viết thay cho lời trăn trối:


"Chức vụ tôi là Tể tướng, mà không cứu được xã tắc, ổn định thiên hạ, quân bại nước nhục, tội đáng chết từ lâu. Từ ngày bị bắt đến nay, không làm điều gì gian dối. Ngày nay cơ sự thế này, xin hướng về phương Nam lạy trăm lạy. Xin được nói: Khổng Tử nói muốn có nhân đức phải giữ nghĩa, tôi giữ nghĩa đến cùng nên có nhân. Đọc sách thánh hiền, học được chuyện gì? Đó là làm gì cũng đừng để ngày nay, ngày sau phải hổ thẹn. Tống thừa tướng Văn Thiên Tường tuyệt bút".

Bài "Chính khí ca" cũng là một tác phẩm hết sức nổi tiếng của ông, được Văn Thiên Tường làm khi đang ở trong nhà tù của quân Nguyên, bốn câu kết là:


Thánh hiền khuất lâu rồi

Khuôn phép vẫn không mất

Hiên gió mở sách coi

Gương xưa soi trước mặt.

Khí tiết của Văn Thiên Tường ảnh hưởng rất nhiều đến sĩ phu Nho giáo đời sau, nhất là hai câu thơ:





人生自古誰無死

留取丹心照汗青

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh

Con người xưa nay ai không chết?

Hãy để lòng son chiếu sử xanh

Sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, Nho giáo tại Trung Quốc bị bài xích, coi là tàn dư lạc hậu của chế độ phong kiến. Học giả Trần Trọng Kim, tác giả cuốn Nho giáo có nhận xét về sự suy yếu của Nho học ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX như sau:




Báo Asia Times Online viết về sự thay đổi cái nhìn của đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi họ mới lên nắm quyền, dưới thời Mao Trạch Đông Khổng Giáo được xem là một hệ tư tưởng phong kiến, còn bây giờ được coi là có vai trò quan trọng trong quan hệ ngoại giao của Trung Quốc.[257] Báo Economist nhận xét, Mao cho là Khổng tử là một biểu hiệu cổ hủ so với nước Cộng sản Trung Quốc, nhưng bây giờ triết gia này được cho là người truyền bá hòa bình và sự hòa đồng.[258]

Tại Đài Loan vẫn duy trì Nho giáo đặc biệt trong quan hệ truyền thống gia đình, họ tộc và mối quan hệ công sở, đặc biệt thời Quốc dân đảng theo xu hướng bảo thủ nắm độc quyền lãnh đạo chính trị ở đảo này. Cuối thập niên 1980, Đài Loan cho thi hành dân chủ, nhưng truyền thống Nho giáo khá đậm nét trong văn hóa (Quốc dân đảng coi trọng văn hóa dân tộc, đối lập là đảng Dân tiến coi trọng hội nhập). Ngược lại tại Hồng Kông thì văn hóa tự do phương Tây chiếm ưu thế.

Đến cuối thế kỷ XX, Nho giáo bắt đầu được quan tâm trở lại, nhiều người Trung Quốc muốn phục hưng lại Nho giáo để làm phương châm khôi phục lại đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc. Năm 1989, trên tờ "Nga Hồ Nguyệt san" trong bài "Ý nghĩa hiện thực và các vấn đề cấp thiết của phục hưng Nho học Trung quốc đại lục", Tưởng Khánh đã chỉ ra rằng: "Vấn đề lớn nhất trước mắt của Trung Quốc đại lục là vấn đề phục hưng Nho học" và tuyên xưng "Nho học lý luận phải là chủ nghĩa, cần được khôi phục lại địa vị cao nhất như trong lịch sử, là tư tưởng chính thống của tinh thần và sinh mệnh của dân tộc Trung Hoa"[259]

Cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Trung Quốc đã loại bỏ phần thi áo tắm kể từ năm 2015. Ban tổ chức cho biết: "Việc yêu cầu các thí sinh mặc trang phục áo tắm thiếu vải, phô diễn cơ thể trước đông đảo khán giả để câu khách là sự thiếu tôn trọng đối với phụ nữ và đây cũng là quan niệm sai lầm tại các cuộc thi nhan sắc, đưa ra những thông điệp sai lầm về cái Đẹp". Ban tổ chức sẽ loại bỏ phần thi áo tắm để cuộc thi trở nên gần gũi với thuần phong mỹ tục Trung Quốc, thay vào đó họ sẽ tập trung chủ yếu vào việc phô diễn tài năng về nghệ thuật, văn hóa truyền thống, đặc biệt là đạo Khổng. Trọng tâm của cuộc thi năm 2015 là việc tập đọc văn bản cổ “Đệ tử quy” được viết dưới triều Hoàng đế Khang Hi nhà Thanh (trị vì 1661-1722), với nội dung dựa trên những bài giáo huấn của Khổng Tử, nhấn mạnh vào tiêu chí cơ bản để trở thành một người tốt, cùng với những định hướng để con người sống hài hòa với những người xung quanh. Ủy ban đặt ra tiêu chí rằng các thí sinh phải hiểu biết sâu về văn hóa Trung Hoa để góp phần mở rộng sự truyền bá văn hóa Trung Quốc ra thế giới[260]

Theo Dror Poleg, Thạc sĩ về Lịch sử kinh tế của Trường Kinh tế London, làm việc tại Trung Quốc: thực tế là di sản Nho giáo đã được sử dụng có hệ thống để biện minh cho những hạn chế về tự do cá nhân nếu sự tự do này vi phạm kỷ cương xã hội và giá trị đạo đức cộng đồng, từ Tokugawa của Nhật Bản, thông qua Lý Quang Diệu của Singapore, và cho đến thế kỷ XXI tại Trung Quốc.


Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]


Nam tước Motoda Nagazane/Nguyên Điền Vĩnh Phu (1818 - 1891), người đã có công kết hợp tư tưởng đạo đức Nho giáo với giáo dục khoa học kỹ thuật, tạo nên nền giáo dục Nhật Bản hiện đại

Ở Nhật Bản, Nho giáo bắt đầu được truyền vào từ thế kỷ thứ V. Năm 604, Thái tử Shotoku đã dùng lý tưởng Nho học để xây dựng pháp luật. Đến thời Nara (710 – 794) và và giai đoạn đầu của thời Heian (794 – 1185) Nho học phát triển mạnh mẽ trong tầng lớp quí tộc và tăng sĩ

Tại Nhật, chữ Trung của Nho giáo là đức mục được đề cao nhất – ngưòi Nhật gọi nó là "Trung thành tâm" (忠誠心chùseishin), và quan hệ bề tôi với chủ ấy gọi là "Quan hệ chủ tòng" (主従関係shujù kankei). Người Nhật ai cũng biết đến câu chuyện về 47 Ronin trong sự kiện Akô thời Nguyên Lộc (1748). Đội trưởng Ôishi và các võ sĩ của mình đã hy sinh bản thân báo thù cho chủ: Ôshi thấy đám tang mẹ đã gạt nước mắt ra đi không về chịu tang, rồi đuổi vợ đi để che mắt kẻ thù. Một võ sĩ khác - Hara, đã chia tay mẹ già, vợ trẻ, con thơ để báo thù cho chủ. Bà mẹ của Hara đã cư xử như một liệt nữ Nhật Bản: bà thắt cổ tự tử để cho con yên lòng thực hiện nghĩa vụ cao cả nhất của người con trai. Câu chuyện ấy được ghi trong Trung thần tàng (忠臣蔵Chùshingura), được nhiều thế hệ người Nhật từ xưa đến nay say mê. Lòng trung thành trong một cấu trúc xã hội đến nay vẫn còn tiếp tục được phát huy trong xã hội Nhật Bản hiện đại.[261]

Đến giữa thế kỷ XIX, đứng trước họa thực dân phương Tây, tại Nhật Bản xuất hiện các ý kiến chỉ trích nền giáo dục Nho học tại nước này. Fukuzawa Yukichi trong bài Thoát Á luận đã chỉ trích nền giáo dục chú trọng cổ văn nhưng coi thường kiến thức thực tế của Trung Hoa và Triều Tiên. Ông cho rằng 2 nước này "suốt hàng nghìn năm không hề thay đổi và vẫn quyến luyến với những phong tục tập quán cũ kĩ, khi bàn luận về giáo dục thì lên tiếng giữ gìn nền giáo dục Nho học, chỉ biết trích dẫn những lời giáo huấn “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí”, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lý và nguyên tắc, mê tín hủ lậu không biết khoa học là gì, lại còn kiêu căng tự phụ"[262][263][264] Tuy nhiên, việc đả kích Nho học ở Nhật thời kỳ này cũng có hạn chế: nó bắt đầu từ cái nhìn "sùng bái một chiều về nền văn minh vật chất phương tây cũng như cái nhìn phủ nhận một chiều những giá trị thực sự của dân tộc mình", đi tới nguy cơ đánh mất chính mình trong công cuộc “văn minh Âu hóa” đầy rẫy bi kịch. Ánh hào quang của các tiêu chí phương Tây tuy có nhiều giá trị gợi mở nhưng cũng không ít hiểm họa mà đáng sợ nhất là tinh thần sùng bái vật chất, là kiểu sống nhân danh “đấu tranh sinh tồn”, “chủ nghĩa tinh hoa”, chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn có quan hệ khá nhiều với các chính sách xâm lược thực dân, chế độ phát xít".[264]

Triều đình và những trí thức Nhật Bản, một mặt thấy được hạn chế của nền giáo dục Nho giáo trong thời kỳ mới, mặt khác họ vẫn thấy được giá trị của Nho giáo trong việc giáo dục đạo đức, nhất là giáo dục lòng trung thành, xây dựng một nước Nhật Bản theo chủ trương “Nước giàu binh mạnh”.[264] Nhà nghiên cứu Yoshiharu Tsuboi nhận xét rằng “Ở Nhật Bản, Trung Hoa và Triều Tiên lúc này đều có những khẩu hiệu tương tự nhau như Hòa hồn dương tài (Tinh thần Nhật và kỹ thuật Tây Âu), Đông đạo tây khí (đạo lý phương đông và thực hành phương tây), Trung thể tây dụng (Thể chất Trung Hoa và công dụng phương tây)",[264] tất cả đều nhằm mục tiêu: học hỏi kỹ thuật phương Tây nhưng vẫn duy trì được nền tảng đạo đức Nho giáo trong xã hội. Yoshiharu Tsuboi xác nhận cộng đồng Đông Á “có cùng một vấn đề đã đặt ra cho Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản là làm sao bảo vệ được dân tộc và bản sắc dân tộc chống xâm lược phương Tây mà vẫn giữ gìn các giá trị truyền thống đặt trên cơ sở Nho giáo".[264]

Năm 1880, tại Nhật Bản, cải cách Minh Trị thực thi nền giáo dục mới nhằm chú trọng học hỏi kiến thức khoa học kỹ thuật phương Tây. Bên cạnh đó, triều đình Nhật vẫn khuyến khích nhân dân không được quên nền tảng đạo đức Nho giáo xưa, tuyên dương tinh thần thượng võ cổ truyền vốn có của người Nhật.[265] Trong vấn đề điều hành xã hội, triều đình Minh Trị không học theo Tây Âu mà vẫn tiếp tục duy trì tư tưởng Nho giáo với nền tảng trị quốc mà giới tinh hoa thấm nhuần "Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín"; cách gạn lọc này được gọi là "hồn Nhật Bản, tài Tây Âu".[266]

Theo chủ trương đó, năm 1885, Mori Arinori (Sâm Hữu Lễ 森有礼, 1847 - 1889), Văn Bộ khanh (Bộ trưởng Giáo dục) đã ban bố quy chế giáo dục đạo đức Nho giáo cho học sinh. Sau đó, Nam tước Motoda Nagazane/Nguyên Điền Vĩnh Phu 元田永孚 (1818 - 1891), Thị giảng Cung Nội tỉnh công bố bộ sách ghi những lời chỉ dụ về giáo dục của Thiên hoàng gọi là Sắc chỉ giáo dục (教育勅語). Trong đó phần đầu ghi lại những lời dạy của các Thiên hoàng trong lịch sử xác lập quan hệ giữa đạo đức và quốc gia: Lòng trung hiếu của thần dân là "tinh hoa của quốc thể", là "ngọn nguồn của giáo dục"… Tiếp theo trình bày 12 đức mục: Hiếu với cha mẹ, Hoà vợ chồng, Tôn trọng pháp luật, Tinh thần xả thân khi quốc gia hữu sự… Tinh thần ấy về cơ bản chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo truyền thống[261]

Trong Sắc chỉ giáo dục, Motoda Nagazane, nhà giáo dục hàng đầu Nhật Bản thời ấy, xác định phương châm của giáo dục Nhật Bản[267]:




Theo quan điểm của Motoda Nagazane, giáo dục cần chú trọng đến truyền thống và đạo đức trước khi dạy về khoa học và thế giới, ông chủ trương phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc Nhật Bản. Theo ông, việc hội nhập với văn hoá phương Tây chỉ tạo ra một môi trường mà theo đó, nhiều người Nhật Bản đã quên mất các tập tục của cha ông và kết quả trực tiếp là đánh mất truyền thống dân tộc. Ông cho rằng, cải cách giáo dục cần phải "tập trung vào học tập luân lý theo Khổng giáo dựa trên cơ sở những lời dạy của tổ tiên”[268]



Triều đình Thiên hoàng tập trung phổ biến, truyền bá tư tưởng Nho giáo cho các học sinh. Sắc lệnh giáo dục năm 1880 quy định nhà trường đối với môn lịch sử phải đặt trọng tâm vào thể chế kiến quốc, tức "Chủ nghĩa hoàng gia là trung tâm". Năm 1890, Thiên hoàng Minh Trị đích thân ban bố "Sắc chỉ giáo dục", lấy việc "phò tá hoàng vận", "chí trung chí hiếu" làm căn bản, mỗi học sinh phải thuộc lòng "Sắc chỉ giáo dục" của Thiên hoàng và "Di huấn của Hoàng tổ Hoàng tông". Một đoạn trong "Giáo viên Tiểu học cần biết" soạn thảo năm 1881 có ghi:




Nhà nước Nhật Bản từ thời cải cách Minh trị kết hợp cả Thần giáo (thuyết duy tâm, được cho là nguyên nhân đưa đến chủ nghĩa quân phiệt Nhật), Khổng giáo (du nhập từ Trung Quốc) và văn minh phương Tây. Chính thể là quân chủ nhị nguyên, đề cao vai trò Hoàng đế. Từ triết lý giáo dục bình đẳng và quan điểm xem trọng hiền tài bất kể xuất thân của Nho giáo, Chính phủ Minh Trị có chính sách không phân biệt hoàn cảnh, giai tầng của bất cứ thành phần nào trong vấn đề tuyển chọn nhân tài để đưa sang các nước phương Tây du học, tạo cho người dân Nhật niềm tin rằng nguồn gốc xuất thân, tài sản thừa kế không quan trọng bằng sự cố gắng bản thân.

Công cuộc cải tổ của Thiên hoàng Minh Trị đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhật Bản đã có một nền giáo dục có xu hướng mới, nhưng họ vẫn không quên đi văn hóa cổ truyền của đất nước, vẫn đề cao tinh thần đạo đức và chủ nghĩa dân tộc của người Nhật Bản, đề cao truyền thống dân tộc theo tinh thần Khổng giáo nguyên thuỷ.[265] Các tư tưởng Nho giáo ngày nay vẫn là một thành tố rất quan trọng trong cấu trúc xã hội Nhật Bản hiện đại, người Nhật đã khéo léo sử dụng các ưu điểm của Nho giáo trong việc phát triển đất nước, cụ thế:


  • Tinh thần hiếu học mà Nho giáo đề cao đã giúp tạo nên trình độ giáo dục cao của nhân dân Nhật. Mỗi gia đình Nhật bản dành tới 40% thu nhập cho việc học tập.

  • Đối với người Nhật, vấn đề giảng dạy đạo đức luôn được nhìn nhận như một điều kiện tiên quyết để hiện đại hóa đất nước từ khía cạnh xã hội.

  • Người Nhật thấm nhuần truyền thống tiết kiệm của Nho giáo, họ dành tới 18% thu nhập để tiết kiệm (tỷ lệ cao gấp đôi Mỹ), họ hiếm khi tiêu xài tiền bạc cho những đồ xa xỉ phẩm, nhờ vậy nước Nhật đã huy động được nguồn vốn lớn trong dân cư để phát triển kinh tế.

  • Chủ nghĩa cộng đồng, quan niệm về xã hội hài hòa, về trách nhiệm của các thành viên trong xã hội với nhau của Nho giáo được người Nhật phát huy rất tốt. Người Nhật tôn trọng các quy tắc xã hội, tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, ý thức tập thể, lòng trung thành và tôn kính bề trên. Nhân viên thường gắn bó với công ty và có tinh thần tập thể cao. Ngược lại công ty cũng có chính sách nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng lao động; chăm lo phúc lợi cho nhân viên. Người dân Nhật rất tôn trọng luật pháp, các quy tắc xã hội cũng như phép lịch sự trong quan hệ với nhau như: xếp hàng, cúi chào nhau, dừng đèn đỏ... Tỷ lệ tội phạm hình sự nghiêm trọng như giết người, hãm hiếp cũng thấp hơn Âu Mỹ.

  • Người Nhật đã đưa cả những lời dạy Nho giáo vào đạo đức kinh doanh, coi đó là "luật bất thành văn". Các doanh nghiệp Nhật thường rất có trách nhiệm với đối tác ngay cả khi họ không chịu ràng buộc về pháp lý, điều này trái hẳn với các doanh nghiệp Âu-Mỹ luôn chỉ muốn chịu trách nhiệm nếu pháp luật bắt buộc.

Thành công của Nhật Bản cho thấy Nho giáo không đối nghịch với sự phát triển trong thời kỳ hiện đại. Trái lại, nền tảng đạo đức Nho giáo lại trở thành động lực to lớn thúc đẩy phát triển kinh tế.

Sau 1945, Nhật Bản có một Hiến pháp mới, Thần đạo không còn là quốc giáo, Nho giáo cũng giảm vai trò, tuy nhiên đảng Dân chủ Tự do theo xu hướng bảo thủ nắm quyền liên tục vẫn tiếp thu các truyền thống cũ cùng với văn hóa phương Tây. Đối lập là Đảng Xã hội có xu hướng quốc tế hơn, cởi mở hơn với văn hóa bên ngoài và có tư duy bình đẳng.


Triều Tiên và Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]


Chân dung Lý Hoảng, một trong Nhị đại Nho gia của Hàn Quốc trên tờ 1.000 won

Học viện Khổng tử tại thành phố Andong, Hàn Quốc trên tờ 1.000 won

Nho giáo đã trở thành quốc giáo ở Triều Tiên từ triều đại Chósun. Trong xã hội hiện đại ngày nay ở Triều Tiên cũng như Hàn Quốc (2 nửa của vương quốc Triều Tiên trước kia), tư tưởng Nho giáo vẫn có ảnh hưởng rất lớn.

Giống như Trung Quốc và Việt Nam, Nho học đã tạo ra một lớp trí thức được đánh giá cao trong xã hội Triều Tiên thời Trung Cận đại (Khoa bảng). Vì thế nếu một cá nhân nào đó đi thi và đỗ Tiến sĩ được cả huyện làm đại lễ, đỗ Cử nhân được làm Trung lễ để đón tiếp. Sự kiện thi đỗ được coi trọng hơn là được thăng chức, điều này đã được ghi trong Hương ước Hải Châu như sau: "Nếu như đỗ Tiến sĩ cập đệ thì làm đại lễ, đỗ Cử nhân thì làm trung lễ. Còn lại các loại lễ như lễ đội mũ cho con trai, lễ thăng quan chức lên một bậc đều làm tiểu lễ... và tặng vật cho người đỗ Tiến sĩ là 5 sấp vải bông, đỗ Cử nhân tặng 3 sấp vải bông".

Tư tưởng Nho giáo ở Triều Tiên biểu hiện rõ nhất trong mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ, quan hệ vợ chồng, anh em, quan hệ với bạn bè người thân. Trong các mối quan hệ này, quan hệ và trách nhiệm đối với cha mẹ là cao nhất. Con không được bất hiếu với cha mẹ, nếu như vi phạm phải chịu hình phạt cao nhất. Bản Mật Dương hương ước soạn năm 1648 đã ghi: "Làm con cốt ở sự thành thật, thành thật là cái gốc của sự hiếu kính". Khi cha mẹ còn sống phải có trách nhiệm phụng dưỡng chu đáo, khi cha mẹ qua đời phải lo tang tế theo đúng lễ tục. Cha mẹ là đấng tối thượng, những người làm con phải luôn ghi nhớ để chăm sóc và phụng dưỡng suốt đời. Ý thức này khiến cho con người sống nhân bản hơn, có giá trị giáo dục cao. Tư tưởng Nho giáo còn thể hiện ở tinh thần "Tôn kính trưởng thượng" - tôn trọng và kính nể bậc trên, người cao tuổi. Tư tưởng Nho giáo đề cập trong Hương ước Triều Tiên còn dạy dân có tính trung tín, đôn hậu với bạn bè người thân, cư xử với nhau có tình nghĩa trước sau.[270]

Theo các học giả Triều Tiên-Hàn Quốc, khi gia đình và đạo đức gia đình được chấn chỉnh và phát huy sẽ khiến cho thuần phong mỹ tục được trở nên tốt đẹp; như thế cũng sẽ góp phần làm ổn định xã hội. Trong lời tựa cho "Hương ước Tây Nguyên", tác giả đã viết: "Người trong một Hương (Huyện) khi khó khăn phải giúp đỡ lẫn nhau, khi có bệnh tật phải cứu giúp nhau, khi có việc phải ra ngoài thì phải hỗ trợ nâng đỡ nhau. Vả lại, khiến cho con em chịu sự giáo dục của gia đình, của trường làng, trường huyện, để đôn đốc nâng cao ý nghĩa của hiếu đễ, khiến cho xã tắc thịnh trị đến muôn đời, phong tục tốt đẹp, thuần lương cũng từ đó mà ra". Tác giả của Lễ An hương lập ước điều cũng viết trong bài tựa như sau: "Bậc đại phu trong làng lấy đức để hành đạo, làm kẻ sĩ tất phải tu chính trong gia đình, làm rạng rỡ nơi làng xóm, sau đó có thể chấn hưng được quốc gia... Huống chi, cái tốt cái xấu có thể xen nhau, Hiếu Đễ Trung Tín nếu bị chậm hoặc không được thi hành thì khiến cho cái xấu, cái ác có thể quay về. Như thế thật là đại họa cho xã tắc."


Truyền thống Nho giáo của người Hàn Quốc trong Tết Trung thu: người con làm lễ dâng rượu cho cha

Như vậy, những nhà Nho Triều Tiên đã mang tư tưởng Nho giáo của Trung Hoa để áp dụng vào việc dạy cho dân có những phong tục đẹp theo quan niệm Nho gia. Nho giáo được coi là một chuẩn mực để định ra những giá trị đạo đức và các hành vi ứng xử cho dân. Tư tưởng Nho giáo được các nhà Nho Triều Tiên tiếp thu và phát triển theo xu hướng dân tộc, coi trọng tình cảm gia đình, yêu kính cha mẹ, thương yêu anh em, nhân hậu với người thân, quý trọng tình bằng hữu, hoà mục với xóm làng, trọng nghĩa lý, biết cứu giúp người trong khó khăn hoạn nạn, ứng xử đúng với vị trí của mình.[270]

ở Hàn Quốc và Triều Tiên, vấn đề học vấn được giải quyết một cách đáng khâm phục chính bởi truyền thống Nho giáo hiếu học. Người Hàn Quốc và Triều Tiên, cũng như­ các nước đạo Khổng, luôn tuân thủ nếp sống cần kiệm, nghị lực đeo đuổi học vấn “học không biết mỏi, dạy không biết chán”. Từ truyền thống hiếu học của mình, người Hàn Quốc có đức tính tôn sư trọng đạo rất cao. Ai đó từng dạy học sinh Hàn Quốc đều thấy rõ tinh thần đó. Dân tộc Triều Tiên có một câu cách ngôn giáo dục đáng kính là: “Không được giẫm lên, dù chỉ là cái bóng của thầy”. Lực lượng lao động được đào tạo một cách nghiêm túc và hiếu học là nguyên nhân chính tạo nên sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Hàn Quốc trong thế kỷ XX. Ở Triều Tiên cũng vậy, dù kinh tế còn khó khăn nhưng nước này có những thành tựu về khoa học công nghệ ngang hàng với các cường quốc thế giới: họ có thể tự chế tạo từ điện thoại di động, máy tính bảng cho tới máy bay không người lái, xe tăng, tàu ngầm, tên lửa đạn đạo... và cả bom nguyên tử.

Từ năm 1910, Nho giáo đã không còn là quốc giáo, hệ tư tưởng chính thức của Nhà nước tuy nhiên nó vẫn có ảnh hưởng các mối quan hệ gia đình, thái độ chính trị, phương pháp tiếp cận để giải quyết vấn đề và nhiều các khía cạnh khác của cuộc sống ở Hàn Quốc và Triều Tiên.

Tại Hàn Quốc ngày nay, Nho giáo vẫn ảnh hưởng rất sâu đậm. Chuyển sang thời hiện đại, vào những năm 1970, có những thời kỳ mà người Hàn Quốc nhân “phong trào xây dựng làng mới” đã đập phá, bãi bỏ những thứ mà họ cho là tàn dư, tàn tích của chế độ phong kiến. Những gì truyền thống đều bị coi là “cổ hủ”, lỗi thời, lạc hậu, cần phải gạt bỏ nhanh chóng để tiến lên hiện đại hóa. Thế là rất nhiều những di vật, di sản văn hóa có giá trị bị đập phá, nhiều sách vở tư liệu cổ quý giá bị thiêu hủy. Thời kỳ này do Tổng thống Park Chung Hee nắm quyền, ông ta định dẹp bỏ tất cả những gì gọi là truyền thống để nhanh chóng đạt được cái gọi là hiện đại hóa. Nhưng, về tư tưởng, Park Chung Hee không đưa ra được một học thuyết chính trị nào phù hợp mà nhận ra rằng, không thể không sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, trong đó, Trung (trung thành) và Hiếu (hiếu thảo) là giá trị quan xuyên suốt nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa quốc gia của ông. Vào thời kỳ đó, đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng giữa các học giả Hàn Quốc về tính hữu dụng của truyền thống, của yếu tố tích cực trong Nho giáo mà kết quả cuối cùng là Park Chung Hee đã đi đến quyết định: Giá trị quan của Nho giáo về Trung và Hiếu được ông ra chỉ thị tiếp tục dạy trong nhà trường và truyền bá trong nhân dân[271].

Từ đó cho đến tận ngày hôm nay, vấn đề chữ Hiếu vẫn được nêu cao và được coi là truyền thống tốt đẹp của người Hàn Quốc. Trong quan hệ vợ chồng dù không còn khắt khe như thời phong kiến nhưng trách nhiệm của người đàn ông đối với kinh tế vẫn là chính, đa số phụ nữ sau khi lấy chồng đều ở nhà chăm lo việc nhà, nuôi dạy con cái, họ chấp nhận bỏ việc để ở nhà làm hậu phương cho sự nghiệp của chồng. Họ vẫn nêu cao đức hạnh "dâu thảo, vợ hiền" thực hiện "Nghĩa vợ chồng" như một bộ luật bất thành văn.[272]

Vấn đề chữ Hiếu vẫn được nêu cao và được coi là truyền thống tốt đẹp của người dân Hàn Quốc. Đời sống người Hàn Quốc càng khá giả thì việc cúng giỗ tổ tiên chẳng những không mất đi mà lại càng trang trọng, càng giống như phương thức mà các qúy tộc thời xưa đã làm. Tết Trung thu ở Hàn Quốc không phải là Tết thiếu nhi như ở Việt Nam mà là ngày lễ lớn, người Hàn Quốc dù ở xa cũng trở về đoàn tụ gia đình để lễ bái ông bà cha mẹ, cúng lễ và quỳ lạy trước phần mộ tổ tiên. Về phía nhà nước, Chính phủ quy định kỳ nghỉ dài ngày trong dịp lễ này và Tổng thống Hàn Quốc luôn có bài phát biểu chúc Tết Trung thu nhằm nhắc nhở người dân cần ghi nhớ truyền thống của tổ tiên.[271]


Học phủ Thành Quân Quán cũ, nay nằm trong khuôn viên của cơ sở Xã hội và Nhân văn

Đại học Thành Quân Quán, trường đại học lâu đời nhất Hàn Quốc được thành lập năm 1398 để thờ cúng và đào tạo Đạo Khổng. Sau 600 năm, hiện nay trường vẫn là một trong những đại học lớn nhất Hàn Quốc và vẫn giữ nguyên khẩu hiệu là "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí" (仁, 義, 禮, 知), thể hiện tinh thần của Khổng Giáo về bốn phẩm chất quan trọng của con người: tinh thần, hành động, lương tâm, và trí tuệ. "Nhân" thể hiện tình yêu thương, "Nghĩa" giúp phân biệt đúng sai, "Lễ" thể hiện lòng kiên nhẫn và đúng mực, "Trí" thể hiện khả năng lĩnh hội, tư duy, thể hiện Triết lý của Khổng Tử hướng con người đến sự nhận thức và nuôi dưỡng điều thiện. Bốn yếu tố đó ảnh hưởng đến triết lý phát triển của trường, và là những tiêu chí để xây dựng nền nghiên cứu đề cao sự thật và công bằng xã hội. Biểu tượng của trường là hai cây bạch quả lớn (Di tích quốc gia Hàn Quốc số 59). Mặc dù bây giờ đã không còn, hai cây bạch quả này được coi là biểu tượng quan trọng của đại học Sungkyunkwan. Được trồng vào năm 1519 bởi Yun Tak, hiệu trưởng của học phủ Sungkyunkwan, cây bạch quả còn là biểu trưng của Nho giáo bởi có truyền thuyết cho rằng, Khổng Tử thường ngồi đọc sách, đàm đạo hoặc dạy học trò dưới tán cây. Loài cây này cũng thể hiện sự trường thọ và thông thái, hai yếu tố quan trọng trong văn hóa Triều Tiên.


Singapore[sửa | sửa mã nguồn]


Singapore là đất nước có lịch sử non trẻ nên không có truyền thống Nho giáo hàng ngàn năm như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản... Tuy nhiên, do 70% người Singapore là người gốc Hoa, do đó Nho giáo vẫn là thành tố quan trọng ảnh hưởng tới xã hội nước này.

Giành độc lập từ thập niên 1950, Singapore đã trải qua quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng, đô thị hóa khiến bộ mặt đất nước thay đổi nhanh chóng. Tuy nhiên bên cạnh những thành công, các nhà lãnh đạo Singapore sớm nhận ra những nhân tố mới tiềm ẩn nguy cơ với đất nước:


  • Đô thị hóa khiến các dòng tộc bị xé nhỏ. Tinh thần vì cộng đồng và dòng tộc trong thế hệ trẻ sinh ra ở thành phố đã giảm đi rất nhiều

  • Vai trò cá nhân được đề cao, nhưng nếu đề cao thái quá thì sẽ dẫn đến tình trạng con người chỉ biết tư lợi cho bản thân, coi thường các giá trị nhân văn, các giá trị cộng đồng.

Các nhà lãnh đạo Singapore nhận thấy đó là nguy cơ cho một cuộc "Khủng hoảng về đạo đức" mà nếu xảy ra thì hậu quả sẽ rất tai hại. Các nhà nghiên cứu khẳng định: khi những giá trị truyền thống bị phá vỡ quá nhanh mà các chuẩn mực mới chưa định hình, xã hội sẽ rơi và một tình trạng "mê loạn về giá trị sống". Việc du nhập lối sống phương Tây đã sinh ra những tác động tiêu cực, làm tăng tỷ lệ tội phạm, ly hôn, quan hệ tình dục trụy lạc... trong khi văn hóa phương Đông ngày càng mất đi. Đó là điều đã manh nha ở Singapore từ thập niên 1970 và ngày càng trở nên rõ rệt. Sự phát triển kinh tế mà không đi kèm bảo lưu giá trị văn hóa thì sẽ dẫn tới kết quả tai hại. Gia đình truyền thống bị xáo trộn, con người sống thiếu đạo đức thì xã hội không thể nào ổn định chứ chưa nói đến phát triển.

Muốn khôi phục các giá trị phương Đông, đương nhiên Nho giáo được coi trọng hàng đầu. Do đó, trong thập niên 1970, chính quyền Singapore đã phát động chiến dịch "Chấn hưng đạo đức Nho gia" trong cộng đồng người gốc Hoa nước này, coi Nho giáo là công cụ hữu hiệu chặn đứng sự suy thoái đạo đức đang có nguy cơ lan rộng trong xã hội. Phong trào này được đông đảo người dân ủng hộ. Nó đi vào ý thức người dân, được ca tụng là "Công cuộc tái sinh văn hóa" nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống tốt đẹp và loại bỏ những ảnh hưởng xấu, lai căng từ bên ngoài. Các phong trào được cụ thể hóa như:


  • Tháng 6/1976, phong trào "Một tháng lễ phép", sau này đưa hẳn vào chương trình giáo dục.

  • Tháng 11/1979, phong trào "Kính trọng người già", sau này tiến hành đều đặn hàng năm.

  • Tháng 2/1982, Singapore quyết định đưa các môn luân lý Nho giáo vào chương trình khóa học tôn giáo để các học sinh năm ba và bốn trung học lựa chọn.

  • Tháng 6/1982, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trướng giáo dục Ngô Khánh Thụy sang Mỹ bàn với các học giả người Mỹ gốc Hoa về những nguyên tắc và kế hoạch nhằm thúc đẩy luân lý Nho giáo trong xã hội.

Chính phủ Singapore cũng tận dụng truyền thông như tivi, báo đài... để tuyên truyền rầm rộ cho phong trào, trên truyền hình thường xuyên có các học giả Nho giáo nổi tiếng tiến hành diễn thuyết. Mặt khác, chính phủ thành lập hẳn một cơ quan chuyên nghiên cứu triết học phương Đông, đó là Viện triết học Đông Á. Viện này đã đóng vai trò quan trọng trong việc khởi xướng các phong trào phục hưng Nho học tại các nước Đông Á.
Nhà lãnh đạo Singapore nổi tiếng, Lý Quang Diệu, luôn phát biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo Nho đối với xã hội
Singapore. Bản thân ông năm 1985 đã được bầu làm Chủ tịch Hội Khổng học thế giới.

Trả lời phỏng vấn trên Foreign Affairs năm 1995, ông Lý Quang Diệu nói về tầm quan trọng của văn hóa và đạo đức truyền thống đối với sự phát triển của Đông Á, điều mà các nước phương Tây đã đánh mất[273]:


Tôi thấy có những điều không chấp nhận được trong xã hội Mỹ: súng ống, thuốc phiện, tội phạm bạo lực, người vô gia cư, các hành vi lố lăng ngoài đường, nói tóm lại là xã hội đổ vỡ. Sự mở rộng quyền tự do cá nhân thích hành động hay phá phách thế nào tuỳ ý gây ra tổn thất với trật tự xã hội. Ở phương Đông, mục đích chính luôn là trật tự xã hội ổn định để mọi người có thể có hưởng tự do của mình. Sự tự do này chỉ tồn tại trong xã hội ổn định chứ không phải ở đất nước của tranh cãi và vô chính phủ.
Tại Singapore, nếu nước tiểu dương tính, anh ta phải đi cai nghiện ngay. Ở Mỹ anh làm vậy thì lại bị coi là xâm phạm quyền tự do cá nhân và bị kiện ngay tức khắc. Quyền cá nhân ở Mỹ được coi là bất khả xâm phạm. Nhưng chẳng ai quan tâm khi quân đội Mỹ bắt tổng thống của một nước khác rồi đưa đến Florida và ném ông ta vào tù. Tôi chẳng thể nào hiểu được.
Con người cần những ý thức đạo đức nhất định về đúng và sai. Có những thứ là xấu xa. Anh đơn giản là xấu xa, dễ làm những việc xấu thì phải chặn anh không làm những việc xấu vậy. Người phương Tây từ bỏ những nền tảng đạo đức của xã hội, tin rằng mọi vấn đề có thể giải quyết bằng một chính phủ tốt – đây là điều mà phương Đông chúng tôi không bao giờ tin.
Xã hội phương Đông tin rằng cá nhân tồn tại trong khuôn khổ gia đình. Anh ta không tách rời ra bối cảnh đó. Gia đình là một phần của gia đình rộng lớn hơn, rồi bạn bè rồi xã hội. Người lãnh đạo hay chính quyền không cố cung cấp cho cá nhân những gì mà gia đình có thể. Có câu thành ngữ của Trung Quốc khái quát vấn đề này: "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Tu thân nghĩa là tự lo bản thân, tự rèn luyện, làm mọi việc để mình trở nên có ích; tề gia là lo lắng cho gia đình; trị quốc là lo lắng cho đất nước; bình thiên hạ là tất cả dưới bầu trời đều thái bình. Đó là quan niệm cơ bản của văn minh chúng tôi. Chính quyền lên rồi chính quyền xuống, nhưng quan điểm này vẫn duy trì. Chúng tôi bắt đầu bằng sự tự túc của bản thân.
Mặt nữa, chúng tôi may mắn là chúng tôi có nền văn hoá tràn đầy niềm tin vào sự tiết kiệm, làm việc chăm chỉ, kính trọng cha mẹ, tôn kính gia đình, và trên hết, là tôn trọng trí thức và sự học.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]




Nho Giáo ở Việt Nam cũng để lại dấu ấn rất lớn trong quá trình giáo dục và lịch sử dựng nước ở các triều đình phong kiến thời trung đại. Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đã tiếp nhận Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo để làm nên "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục đích). Ba tôn giáo đã trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo chăm lo tổ chức xã hội, Đạo giáo chăm lo thể xác con người, Phật giáo chăm lo đời sống tâm linh con người. Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt.[275]

Lịch sử Việt Nam ghi lại tên tuổi của nhiều bậc nhà Nho tài đức: Chu Văn An (1292-1370); Nguyễn Bỉnh Khiêm (1409-1595), Nguyễn Thiếp (1723-1804)... học trò của họ, dẫu có quyền lực rất cao đi nữa cũng không bỏ rơi lễ nghĩa, đạo đức với thầy. Sử chép rằng, Chu Văn An đã dâng sớ xin vua chém 7 tên gian thần, vua không nghe, tức khắc ông từ quan về quê. Một hôm, học trò ông là Phạm Sư Mạnh, đang làm quan to ở triều, về thăm thầy (tức Chu Văn An), dọc đường qua khu chợ đang họp, Phạm Sư Mạnh sai lính thét dân dẹp đường, làm huyên náo. Biết được sự việc, Chu Văn An giận học trò mình quên Lễ Nghĩa với dân, bèn đóng cửa nhà không cho Phạm Sư Mạnh gặp mặt. Vị quan lớn triều đình đã phải quỳ trước cửa cả buổi thầy mới tha lỗi. Nho giáo đã tạo nên những người thầy can trực, đạo đức, như thế mới có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước. Nho giáo thịnh hành nhất vào thời Lê sơ, với nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền.

Nhờ Đạo Nho, người Việt Nam rất coi trọng sự học hành. Văn Miếu - Quốc Tử Giám lập năm 1076 có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Nơi đây còn lưu giữ nhiều tấm bia ghi lại tên tuổi các Nho sĩ đỗ đạt trong các kỳ thi Khoa bảng Việt Nam cùng nhiều bài văn bia nêu lên triết lý giáo dục: mở đầu là ca ngợi công đức của các minh quân, ca ngợi đạo Nho và bậc thánh nhân quân tử; phần tiếp theo nói về việc mở khoa thi và liệt kê họ tên, quê quán những người thi đỗ đại khoa; phần cuối là những lời bình về ý nghĩa của việc tuyên dương đạo Nho, trách nhiệm và nghĩa vụ của người đỗ đạt trước giang sơn đất nước.

Nhiều hoàng đế, danh nhân Việt Nam đã để lại những bài thơ ca ngợi tầm quan trọng của Nho giáo tại đây, ví dụ như:


Giáo hoá lan tràn khắp nước ta,

Đạo Thánh đứng đầu cả bách gia,

Nghe nói Bắc phương văn vật thịnh,

Thảo nào Văn Miếu vẫn nguy nga.
Thời trung đạo ấy tới Viêm đô,

Trăm thủa đề cao nhất đạo Nho,

Triều Lý vẫn còn lưu dấu cũ,

Kinh thành riêng để một quy mô.

Một số câu đối như:


Nước lớn trong giáo dục, giữ thuần phong, đạo được tôn sùng, tin tưởng tư văn nguyên có gốc.

Nhà Nho phải thông kinh, phải thức thời, chớ nên cố chấp, những lời thánh huấn phải ghi lòng.

Sĩ phu có nhiều báo đáp, ơn triều đình đào tạo, ý nước nhà tôn sùng.

Thế đạo nhờ đó duy trì, chốn lễ nhạc y quan, nơi thanh danh văn vật.

Một số mặt tiến bộ của Nho giáo tại Việt Nam:[276]


  • Tạo được truyền thống ham học, truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống coi trọng người có học. Từ đó các kiến thức học tập được tích lũy, có điều kiện để duy trì và phát triển. Ngoài ra còn tạo cho con người biết đạo ăn ở, biết quan tâm đến người khác, biết sống có văn hóa và đạo đức.

  • Tạo được cơ chế tuyển dụng người tài qua thi cử. Bất kể xuất thân ra sao (nông dân, người thợ, lính tráng...) nếu học giỏi đỗ đạt thì có thể ra làm quan giúp nước (ở phương Tây thời kỳ này, chức tước chỉ được chuyển giao nội bộ trong các gia đình quý tộc, dân thường hầu như không thể có được chức vị). Từ đó tạo nên một tâm lý xã hội: "Không tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ". Nhiều thanh niên, trai tráng lấy việc học tập, thi cử làm mục tiêu cao nhất trong cuộc đời mình. Xã hội nhờ vậy coi trọng sự học tập cần cù.
Tranh vẽ nhà Nho Chu Văn An (1292-1370) trong miếu thờ tại Hà Nội.

Câu châm ngôn "Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn" đã ghi khắc sâu đậm vào dân tộc Việt Nam suốt hàng ngàn năm, chữ "Lễ" luôn nhắc nhở người dân rằng phải học lễ độ, thân ái, hòa thuận với mọi người, tôn trọng trật tự, lễ kính với người già và phải có trên dưới rõ ràng. Còn chữ "Văn" nhắc nhở con người phải học hành để thành người tài đức. Câu này được phổ biến ở khắp các trường học tại Việt Nam.

Tuy nhiên Nho giáo Việt Nam còn có những mặt hạn chế. Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" và "đức dục" mà không xét đến mặt "thể dục" là mặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con người. Những kiến thức về giới tự nhiên và về sản xuất vật chất không được Nho giáo đề cập (bởi ở thời của Khổng Tử, khoa học kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển). Do vậy, người học tuy thấm nhuần tư tưởng Nho học về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng kiến thức về khoa học tự nhiên, sản xuất thực tiễn thì lại không phát triển. Cả hai mặt tiến bộ và hạn chế của Nho giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ.

Khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho học biết tiếp thu những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc phục được mặt hạn chế, trở nên "Vừa có tài vừa có đức". Ngược lại nếu không tiếp thu được những tinh hoa tri thức phương Tây mà chỉ bắt chước lối sống, du nhập chủ nghĩa tiêu dùng của phương Tây; mô phỏng các hình thức nhà nước phương Tây mà không hiểu rõ triết lý, ưu nhược điểm và điều kiện tồn tại của những hình thức đó hoặc tiếp thu những học thuyết chính trị cực đoan, vô chính phủ, kích động bạo lực, đề cao sức mạnh phá hủy của đám đông thiếu trí tuệ, phủ định các giá trị truyền thống, gây chia rẽ xã hội; xem thường Nho giáo vì cho rằng nó lỗi thời, không phù hợp với điều kiện xã hội hiện đại thì không những không khắc phục được hạn chế vốn có mà những giá trị đạo đức của nền Nho học, những giá trị văn hóa dân tộc cũng bị đánh mất. Đạo đức suy đồi, văn hóa thui chột thì xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh. Đó là bi kịch của những nước bị "cưỡng ép" phương Tây hóa thiếu định hướng và thiếu chiều sâu như Việt Nam, Trung Quốc. Nó tương phản với Nhật Bản: do chủ động phương Tây hóa một cách có ý thức, có chọn lọc, có hệ thống nên vừa tiếp thu được hệ thống tư tưởng tiến bộ, tri thức khoa học, công nghệ tiên tiến của phương Tây để hiện đại hóa quốc gia mà vẫn bảo tồn được đạo đức xã hội, sự đoàn kết quốc gia và bản sắc dân tộc dựa trên nền tảng Nho giáo.

Nhược điểm nghiêm trọng nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện các trường phái học thuật nên khá đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú và đa dạng như Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ. Đa số nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để vinh thân phì gia. Đạt được mục đích đó thì xem như việc học tập đã kết thúc. Ít người có chí cao xa, như học để tham gia tranh luận những vấn đề học thuật, học để kinh bang tế thế hoặc để phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng. Cũng có một số Nho sĩ quan tâm đến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo đức, ít bàn đến vấn đề siêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế giới và hành động sáng tạo. Thậm chí, họ còn biến những vấn đề siêu hình thành cái thực tế, thực dụng. Vì học tập và tư duy như thế nên Nho giáo Việt Nam ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật có thể so sánh với các nước Nho giáo khác.[277] Nền giáo dục Nho giáo Việt Nam chỉ sản sinh ra được một tầng lớp quan lại có nền tảng Nho học còn các loại hình trí thức then chốt của một tầng lớp trí thức thực thụ thì xuất hiện thưa thớt, mờ nhạt, hoặc hoàn toàn vắng bóng trong một số lĩnh vực như triết học.[278]


Thầy đồ đang dạy học trò

Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và uyên bác của Nho giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt yếu, biên soạn lại thành những tài liệu đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò. Có thể liệt kê các sách như “Tứ thư tập chú” của Chu Hy, “Tứ thư đại toàn” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn là “Thuyết ước” (tóm lược học thuyết) và “Ước giải” (giải thích tóm tắt); hoặc như cuốn “Tính lý đại toàn” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn “Tiết yếu”. Đây là hiện tượng chung của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam. Nếu ở triều Trần có “Tứ thư thuyết ước” của Chu Văn An, thì ở triều Lê - Trịnh có “Tứ thư ước giải” của Lê Quý Đôn, triều Nguyễn có “Tứ thư trích giảng” của Nguyễn Văn Siêu; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “Tính lý tiết yếu” của Bùi Huy Bích, thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là cuốn sách giáo khoa mẫu mực. Các sách này dễ học nhưng đã lược bớt rất nhiều điều, nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản đơn hoá nội dung phong phú và súc tích của học thuyết, khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi lối tư duy, mọi đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại.[277]

Bên cạnh đó, hạn chế lớn nhất là tập quán sùng bái thánh hiền, giáo điều và máy móc của giới Nho sĩ Việt Nam. Trong khi đó bên cạnh Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia... Giữa các trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau. Điều này khiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn chế. Nó chỉ đạt đến mức độ tiếp thu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa, chưa tạo được lý luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp tư duy của nó thiên về bảo thủ, giáo điều.[277] Léopold-Michel Cadière nhận xét:




Có quan điểm cho rằng trong thế kỷ XIX, trước sự phát triển và thâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào các nước châu Á, cùng sự lan toả trên phạm vi toàn thế giới của nền văn minh phương Tây, chế độ phong kiến Việt Nam thời Nguyễn và hệ tư tưởng của nó là Nho giáo trở nên lỗi thời. Do đó, nhà nước phong kiến triều Nguyễn đã trở thành lực cản sự phát triển của xã hội Việt Nam, đẩy xã hội Việt Nam vào cảnh nghèo nàn, lạc hậu, không đủ sức chống lại sự xâm lăng của chủ nghĩa đế quốc. Nho giáo, do là hệ tư tưởng nhằm bảo vệ cái chế độ phong kiến suy tàn ấy nên tất nhiên có tính phản động, đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử. Lúc này, Nho giáo đã bộc lộ rõ rệt những nhược điểm và yếu kém của nó. Các nhà chủ trương cải cách ở Việt Nam, đứng đầu là Nguyễn Trường Tộ, đã phê phán những mặt lạc hậu và yếu kém của Nho giáo không những trên phương diện chính trị, như tổ chức nhà nước, củng cố quốc phòng, mà cả trên phương diện kinh tế, tài chính, nhất là trên phương diện văn hoá, giáo dục. Như vậy, ở thế kỷ XIX, Nho giáo đã cản trở sự phát triển của xã hội Việt Nam không những trên phương diện chính trị - văn hoá, mà cả trên phương diện kinh tế - xã hội. Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, xã hội Việt Nam đã trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cùng với đó, văn hoá phương Tây và hệ tư tưởng tư sản tràn vào Việt Nam. Đồng thời, nền giáo dục Nho học bị bãi bỏ. Nho giáo ở Việt Nam tiếp tục suy tàn và đổ vỡ. Tuy nhiên, thực dân Pháp thống trị vẫn muốn duy trì ở Việt Nam những quan hệ phong kiến và những yếu tố của hệ tư tưởng phong kiến để củng cố chế độ thuộc địa. Vì thế, thực dân Pháp đã sử dụng Nho giáo vào việc cai trị dân bản xứ[280] Trong những tàn dư đó có chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc,đồng thời cũng mang theo những “bệnh hoạn” của chế độ phong kiến. Nó đã để lại dấu ấn rõ rệt ở tác phong gia trưởng, ở quan niệm tôn ti đẳng cấp trong các cơ quan xí nghiệp, ở sự thiếu bình đẳng trong quan hệ nam nữ và quan hệ gia đình, ở sự rập khuôn, giáo điều trong công tác nghiên cứu và công tác tổ chức, ở sự coi thường công tác chuyên môn mà chỉ lo tiến thân bằng con đường quan chức…[281].

Theo sách Lịch sử châu Á, văn hóa Nho giáo thích hợp với kinh tế nông nghiệp, nơi con người có xu hướng thích sống dựa dẫm, khép kín, chủ nghĩa cá nhân không có điều kiện phát triển. Nó biến các quốc gia phong kiến chịu ảnh hưởng dần trở nên lạc hậu và đầy mặc cảm với các đế quốc phương Tây[282].

Báo Phụ nữ Tân văn thời Pháp thuộc viết Nho giáo tồn tại trong một thời kỳ còn chế độ đại gia tộc... Những thuyết trong Nho giáo không biết tới quyền lợi của cá nhân, mà chỉ biết có họ, có làng, có "nước". Mà "nước" trong thời kỳ phong kiến vẫn khác với nước trong thời kỳ tư bản. Tờ báo cũng phê phán một người tôn sùng đạo Nho "ông vừa ao ước cho nhân dân được những quyền lợi của nhân dân ở các xứ tư sản dân trị, lại dựa vào những thuyết rất phong kiến, trái hẳn với chế độ tư bản... Ông thuộc về hạng người thanh niên chiêm nghiệm những lý tưởng "quân tử", "chí sĩ" mà quên rằng cái thực tế mới trong xã hội mâu thuẫn hẳn với những đạo lý rất xưa ấy. Ông quá mê mệt với những danh từ "cao quý" mà không nhìn thấy cái thực tế. Nếu ông biết thoát ra ngoài những chữ hay ho mà nhận rõ cái ý bảo thủ hàm ở trong sách xưa, cái ý bảo thủ đã gây hại cho đại đa số nhân dân... Đừng có ai lợi dụng những đạo lý phong kiến để "vinh thân phì gia"." Bài báo phê phán Nho giáo là hệ tư tưởng phong kiến trung quân, không có lợi cho "dân quyền, giải phóng đẳng cấp và phụ nữ", và thuyết đạo đức không phù hợp với sự thay đổi của kinh tế - xã hội[283].

Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943 của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trường Chinh khởi thảo chủ trương đập tan những quan niệm cũ kỹ của Nho giáo gây ảnh hưởng tai hại ở Việt Nam làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng[284]. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã làm cho Nho giáo ở Việt Nam suy sụp hoàn toàn cùng với sự sụp đổ của chế độ quân chủ. Từ đây, Nho giáo không còn là hệ tư tưởng chính thống của tầng lớp lãnh đạo xã hội. Nho giáo không còn tồn tại nữa nhưng nó vẫn ảnh hưởng lâu dài trong các mối quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa người và người, trong phong tục tập quán và cả trong những nghi thức thờ cúng, tín ngưỡng cổ truyền của người Việt[285].

Trong thời kỳ hiện đại, nhiều nhà Cách mạng Việt Nam nổi bật như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, và tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm... đều xuất thân từ những gia đình nhà Nho có truyền thống khoa bảng hoặc dạy học. Tuy nhiên Phan Bội Châu chọn việc cầu viện Nhật Bản, Phan Châu Trinh chọn việc khẩn cầu Pháp, Hồ Chí Minh lựa chọn chủ nghĩa cộng sản, Ngô Đình Diệm lựa chọn Thiên chúa giáo kết hợp với tư tưởng nhân vị.

Nhà sử học Pháp, ông Pierre Brocheux tin rằng nhà cách mạng Hồ Chí Minh là một người theo Khổng giáo, ông luôn cố gắng kết hợp những ý tưởng của Khổng Giáo, một truyền thống Đông Á với các dòng tư tưởng châu Âu, từ Mác-xít đến Lênin-nít, và cố gắng đưa vào thực tế tính nhân bản và tính công bằng xã hội theo kiểu Khổng Giáo.[286] Tổng kết 30 năm tiếp thu các dòng tư tưởng của mình, nhà cách mạng Hồ Chí Minh đúc kết:


“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Marx có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách thích hợp với điều kiện của nước ta… Khổng Tử, Giêsu, Karl Marx, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ ở một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất tốt đẹp như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ.”[287]

Theo lời của Linh mục Vũ Ngọc Long thì Tổng thống Ngô Đình Diệm chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo, Nho Giáo đã hun đúc ông thành một con người trung thành với quốc gia, thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã làm cho ông trở thành một con người "kính mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người".[288] Khác với người cộng sản, Ngô Đình Diệm không bài xích Nho giáo mà ông chủ trương "Chúng ta sẽ không quay lại phiên bản vô ích của quá khứ quan lại, mà sẽ áp dụng những gì tốt nhất của di sản vào tình hình hiện đại[289]".

Trên thực tế ngay từ thời Pháp thuộc, chủ nghĩa tư bản và lối sống phương Tây thiên về chủ nghĩa cá nhân manh nha phát triển, nhất là các đô thị, trí thức theo đuổi học chữ Quốc ngữ thay vì chữ Nho, mặc Âu phục, thay vì trang phục truyền thống... Nho giáo suy yếu. Đảng Cộng sản khi nắm quyền ở miền Bắc ảnh hưởng bài Nho từ Trung Quốc, do đó Nho giáo bị bài trừ (Mao Trạch Đông từng coi Nho giáo là tư tưởng phong kiến, làm phục hưng đẳng cấp quý tộc, trái ngược chủ nghĩa cộng sản nguyên gốc coi trọng tự do, bình đẳng và tính cộng đồng). Các sinh hoạt văn hóa ở miền Bắc lúc đó theo hướng hòa hợp tập thể, các sản phẩm văn hóa được xem là phong kiến, tư sản, văn hóa lai căng hay văn hóa thực dân mới, văn hóa thị trường tiêu dùng đều bị bài trừ, như cấm thời trang, các quầy bar, sàn nhảy, phòng trà, cấm ả đào, chầu văn, nhạc trẻ, nhạc vàng, tiểu thuyết dâm ô, kinh dị, kiếm hiệp, "tâm lý xã hội",..., nhưng các sản phẩm văn hóa được xem là tinh hoa của nhân loại như opera, giao hưởng thính phòng, hay đậm chất dân tộc có lợi cho việc xây dựng xã hội chủ nghĩa thì vẫn được cho phép. Áo đại cán thời đó được ưa thích nhưng cán bộ và quần chúng bình dân thường may áo khác nhau (mẫu áo đại cán có từ thời Tôn Trung Sơn, vì Mao Trạch Đông tôn trọng Tôn Trung Sơn nên chấp thuận). Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, lạc hậu. Ngược lại ở miền Nam, dưới thời Đệ Nhất cộng hòa, do Ngô Đình Diệm chịu ảnh hưởng của Nho giáo nên ông cũng cấm các vũ trường, sàn nhảy, coi trọng ăn mặc nề nếp... tuy nhiên các hoạt động này vẫn ẩn nấp ở các phòng trà. Sang thời kỳ Đệ Nhị Cộng hòa thì các hoạt động văn hóa tự do hơn, các truyện chưởng, tâm lý xã hội của Hồng Kông, Đài Loan pha trộn ảnh hưởng văn hóa Nho, Lão và tư bản chủ nghĩa chiếm ưu thế trong giải trí[290]. Pháp luật miền Nam thời kỳ này quy định nhiều điều cấm đoán, xử phạt khắt khe đối với việc vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, giải quyết ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của người chồng, thậm chí Bộ luật gia đình năm 1959 còn cấm vợ chồng không được ly hôn... Nhiều lĩnh vực của hôn nhân và gia đình bị bỏ khuyết như vấn đề thừa kế tài sản giữa vợ và chồng... Cả ba bộ luật 1959, 1964, 1972 đã bãi bỏ chế độ đa thê song vẫn thừa nhận nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng, phân biệt đối xử giữa các con, quyền gia trưởng của người chồng vẫn tiếp tục được duy trì...[291] Sau 1975, Nhà nước chủ trương quét sạch các tàn dư "văn hóa thực dân mới", "phản động", "đồi trụy", văn hóa thị trường, màu sắc cá nhân chủ nghĩa, hưởng thụ, "trụy lạc" nên các sàn nhảy, quầy bar,... đều bị đóng cửa; người dân ăn mặc đơn giản, vắng bóng thời trang, như khuyến khích (không ép buộc) đàn ông để tóc ngắn, phụ nữ để tóc dài. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 của Việt Nam Dân chủ cộng hòa có hiệu lực trên toàn quốc, lúc này các nguyên tắc của Nho giáo đối với gia đình mới chấm dứt về pháp lý trên toàn Việt Nam[292].

Sau khi Đổi mới, Nho giáo ít nhiều có điều kiện khôi phục, tuy nhiên những năm gần đây văn hóa phương Tây ngày càng chiếm ưu thế, đặc biệt ở các đô thị, trong giới trẻ. Tự do cá nhân có điều kiện phát triển, phá vỡ nhiều truyền thống cũ[293].

Ở Việt Nam những người ảnh hưởng nhiều của Nho giáo chủ yếu là những người lớn tuổi, theo tâm lý sinh lý của người lớn tuổi thích sống chậm, hoài niệm, ít chấp nhận và cập nhật cái mới, xem trọng lễ nghĩa truyền thống. Công chức, giáo viên,... cũng hay chịu ảnh hưởng của Nho giáo, tính năng động thường kém hơn doanh nhân. Phần nhiều nông dân do quen sống an phận, nếp sống cộng đồng gắn kết ở nông thôn, ít tiếp xúc văn hóa phương Tây, cũng chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo (thể hiện trong lối ứng xử, sở thích ăn mặc, nghe nhạc xem phim,...). Nông dân chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo thường rất ngưỡng mộ những người có học, nhưng thường là những người có học để làm công chức (làm quan) hay công tác xã hội chứ không phải làm kinh tế "chạy theo lợi ích cá nhân". Do Nho giáo đề cao lối sống tập thể theo huyết thống, đại gia đình, và đẳng cấp, nên trong dân gian hay có các châm ngôn như "con ông cháu cha" (chỉ việc con quan rồi lại làm quan theo nếp phong kiến), "một người làm quan cả họ được nhờ" hay truyền thống "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó", chỉ sự áp đặt của cha mẹ lên con cái mang tính gia trưởng, và sự thụ động ỷ lại của con cái với cha mẹ, "môn đăng hộ đối" chỉ hôn nhân do cha mẹ sắp đặt, phải cùng đẳng cấp "quân tử", không cho con lấy kẻ "tiểu nhân", ở các gia đình "quân tử" (đẳng cấp trên về địa vị, học vấn hay tài sản)[294].

Đặc điểm nữa của Nho giáo là rất coi trọng quan hệ gia đình, các bộ luật thời phong kiến và phong tục hương ước quy định rất chi tiết, khắt khe tang cha, mẹ, chồng,...phải tổ chức thế nào, để tang bao lâu, ăn mặc trong tang lễ thế nào, khóc lóc ra làm sao. Các nhà kinh doanh phim, nhạc đánh vào tâm lý tầng lớp ảnh hưởng đạo Nho, cho ra các sản phẩm phim, nhạc chủ đề gia đình mang màu sắc bi lụy để thu lợi nhuận [295]. Mặc dù có một số điểm chung giữa Nho giáo và chủ nghĩa xã hội như coi trọng nếp sống cộng đồng, nhưng trong Nho giáo coi trọng gia đình, thì chủ nghĩa xã hội muốn mở lòng hơn với những người khác, Nho giáo coi trọng tu thân còn chủ nghĩa xã hội coi trọng cải tạo xã hội. Nho giáo không cổ súy cho tự do tình dục, tự do hôn nhân, chủ nghĩa cộng sản đề cao tự do yêu đương, nhưng tình yêu đó cần xuất phát từ sự trong sáng không có vụ lợi về tiền bạc, địa vị, không thể trở thành hàng hóa; ngược lại xã hội tư bản coi trọng tự do tình dục, tình yêu, hôn nhân nhưng trong thời kinh tế tư bản thường thấy nhiều quan hệ tình yêu hay hôn nhân không xuất phát từ tình cảm đích thực mà vì lợi ích toan tính cá nhân, thường là vật chất và dễ đổ vỡ, và nạn mại dâm tăng nhanh. Trong xưng hô, những người cộng sản hay gọi nhau là "đồng chí", từ này một thời lan rất rộng trong xã hội, vào cả nhiều gia đình, không phân biệt tuổi tác, chức phận, còn những người ảnh hưởng của Nho giáo thì hay xưng hô theo chức phận, tuổi tác (như trong công sở, doanh nghiệp hay gọi ông chủ, tổng giám đốc,...), còn ảnh hưởng của văn hóa tư bản phương Tây thì hay gọi cấp trên là sếp, hay ngài,... chung chung[296][297][298].

Từ cuối thế kỷ XX, việc Việt Nam chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập thế giới đã làm nảy sinh những nguy cơ lớn đối với Văn hóa Việt Nam. Nguy cơ bên trong là sự xói mòn và băng hoại giá trị văn hoá truyền thống. Nguy cơ bên ngoài là việc văn hoá, lối sống phương Tây xâm lấn văn hoá bản địa, tạo ra sự tiêu diệt bản sắc văn hoá dân tộc. Nho giáo cũng như nhiều tôn giáo Việt Nam truyền thống (Phật giáo, đạo Mẫu...) luôn coi trọng đạo đức gia đình, giá trị hôn nhân nên đều không ủng hộ việc con cái kiện tụng cha mẹ, phản đối tình dục bừa bãi, coi trọng trinh tiết của phụ nữ, phản đối quan hệ tình dục trước hôn nhân... đến nay các giá trị này vẫn có ảnh hưởng nhưng ngày càng bị phai nhạt đi do văn hóa phương Tây du nhập một cách thiếu chọn lọc vào Việt Nam ngày càng nhiều[293]. Nếu dân tộc Việt Nam bị "hoà tan" bởi văn hóa ngoại lai, đó sẽ là một thảm hoạ lớn và cũng là một loại diệt vong, ghê gớm không kém gì họa mất nước. Trước nguy cơ đó, nhiều người Việt Nam tìm cách hướng về bảo lưu các giá trị truyền thống, tạo ra những cơ hội cho Nho giáo tái sinh. Nho giáo là thành phần quan trọng hàng đầu đã kiến tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam, do đó bảo vệ truyền thống văn hóa Việt Nam sẽ là điều không thể thực hiện được nếu gạt bỏ những gì thuộc về Nho giáo[299].

Nhìn chung trong dư luận có nhiều quan điểm khác nhau. Những người theo quan điểm dân tộc chủ nghĩa có hai hướng, một hướng coi Nho giáo là một thành tố của văn hóa dân tộc, có nhiều điểm tích cực, cần bảo tồn, hướng thứ hai coi Nho giáo là hệ tư tưởng phong kiến Trung Quốc du nhập sang Việt Nam để cai trị người Việt nên cần bài trừ. Một số người theo hướng chủ nghĩa bảo thủ xem Nho giáo là một thành tố văn hóa dân tộc, có lợi cho phát triển kinh tế, ổn định xã hội; những người theo hướng chủ nghĩa tự do chủ trương Nho giáo nên bình đẳng với các hệ tư tưởng khác, bên trong lẫn du nhập từ bên ngoài, tức sự đa nguyên về văn hóa. Một số người thích chủ nghĩa tư bản, coi trọng hội nhập quốc tế, kể cả văn hóa, xem trọng cạnh tranh văn hóa, chủ yếu là văn hoá thị trường. Những người khác quan niệm xã hội chủ nghĩa không loại trừ văn hóa đại chúng và đa dạng văn hóa trong thời kỳ quá độ, cũng như các mặt mà họ xem là tích cực của văn hóa phong kiến, tư bản, nhưng vẫn có sự định hướng theo hướng xã hội chủ nghĩa, hiểu theo nghĩa xây dựng "con người xã hội chủ nghĩa", có đủ trình độ, ý thức để tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại kể cả phương Đông và phương Tây như phim nghệ thuật, nhạc giao hưởng, opera, các phim, tác phẩm văn học đoạt giải thưởng cao của quốc tế (như Nobel văn học, giải Oscar, Cành Cọ vàng...), và bảo tồn văn hóa dân tộc không trái tôn chỉ xã hội chủ nghĩa; do đó sự tiếp thu Nho giáo ở họ là "gạn đục, khơi trong"[300]. Trong khi bảo tồn văn hóa Việt Nam, tiếp thu văn hóa nước ngoài thì phải đồng thời chống cả hai xu hướng cực đoan là "sùng ngoại" (coi cái gì của phương Tây cũng là tốt) lẫn "sùng cổ"[301].

Theo nhận định của Hồ Sĩ Quý (Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam), "thời gian gần đây ở Việt Nam, trong xu hướng chung của việc thực hiện tư tưởng giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống, nhiều yếu tố văn hoá Nho giáo đã được khôi phục và đề cao, thậm chí trong các trường học, khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn" đã được coi như một phương châm ứng xử nền tảng của giáo dục. Mặc dù thực hiện thì chưa được bao nhiêu, nhưng trong tư tưởng, cả xã hội đều thấy các giá trị văn hoá truyền thống mà trong đó những nét tích cực của văn hoá Nho giáo là một bộ phận, đang cần phải được tôn vinh và khôi phục như là một trong các phương thức để ứng xử với các dạng văn hoá ngoại sinh, ngoại lai đang du nhập từ làn sóng toàn cầu hóa... trên những nét lớn là phù hợp với tâm lý chung của cả cộng đồng trên con đường tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh."[302]


Ảnh hưởng lên các tôn giáo khác[sửa | sửa mã nguồn]


Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]


Từ cuối thế kỷ XVII trở đi toàn bộ văn học được gọi là Han Kitab đã phát triển trong các tín đồ Hồi giáo ở Trung Quốc những người đã truyền tư tưởng Hồi giáo đến Khổng giáo. Đặc biệt là các tác phẩm của Lưu Trí (劉智) như "Thiên Phương điển lễ" (天方典禮) tìm cách hài hòa Hồi giáo với không chỉ Nho giáo mà còn với Đạo giáo và được coi là một trong những thành tựu tột đỉnh của các nền văn hóa Hồi giáo Trung Quốc.[303]


Đạo giáo[sửa | sửa mã nguồn]


Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]


Tại Đông Á, Phật giáo phải đối diện với Nho giáo và Đạo giáo. Tuy nhiên, 3 tôn giáo này không bài xích, xung đột mà dần dung hợp với nhau. Sự dung hợp và kéo dài từ thế kỷ I đến thế kỷ XIII, khi Tam giáo đã làm xong quá trình thấm quyện vào nhau, tự điều chỉnh, hình thành các xu hướng mới – và ba phái đều xác định được vai trò xã hội của mình, phân công phân vùng với nhau trong đời sống văn hóa xã hội. Nho giáo chi phối cách tổ chức nhà nước và xã hội, giáo dục thi cử, có tác dụng quyết định đến luân lý. Phật giáo và Đạo giáo chi phối trong đời sống hàng ngày và sinh hoạt kinh tế nông nghiệp của người dân. Người dân tin ở Trời, bái Thần linh và thờ cúng tổ tiên, Đức Phật cùng với những bậc thánh hiền của Nho giáo.[304]

Cả Phật giáo và Đạo giáo đều khuyến thiện, mà “thiện” của 2 tôn giáo này đều là hiếu với cha mẹ, tôn kính bề trên và trung với vua với nước, yêu thương, cứu giúp, tránh không làm điều tham lam độc ác với người khác. Nói cách khác, làm điều thiện cũng có nghĩa là tôn trọng thể chế và quy phạm đạo lý của Nho giáo.[304] Do vậy, Phật giáo và Nho giáo cùng tồn tại, bổ sung cho nhau chứ không tạo nên xung đột tôn giáo.


Công giáo[sửa | sửa mã nguồn]


Thuyết “tam phụ” hay thần học “tam phụ”: Thiên chúa là Cha do Alexandre de Rhodes khởi xướng chịu ảnh hưởng của tư tưởng tam cương (ba mối ràng buộc): quân thần, phụ tử, phu phụ của Nho giáo. Trong phép giảng tám ngày A.Rhodes viết: “Bây giờ ta phải có ba đấng bề trên gọi là ba cha, ta phải thờ, ở đấng nào cho nên đấng ấy. Đấng dưới là cha mẹ sinh thân xác cho ta; đấng giữa là vua chúa trị nước; đấng trên tức đức chúa trời đất, làm chúa thật trên hết mọi sự. Có ba đấng này ta mới được sống, được ở. Vì chúng ta có cha mẹ, thì mới được thân xác thịt này sinh ra mà chớ… Vua Chúa cũng gọi là cha cả và nước cùng các dân. Chẳng có vua chúa, thì nước ở an lành chẳng được… Ắt thật thượng phụ là cha cả, chúa cả trên hết mọi sự, có thưởng có phạt trọng.[305].

Tư tưởng tam cương, ngũ thường còn được Công giáo vận dụng để hướng dẫn tín đồ sống đạo theo tín lý đề cao hôn nhân một vợ một chồng. Thư của giám mục Hermosilla (Liêm) viết: “Các quân tử cứ lẽ tự nhiên đã suy đến sự ấy đã kể phép nhất phu, nhất phụ trong ba giềng mối can hệ nhất trong thiên hạ quen gọi là tam cương… Ví bằng người ta cẩn thận giữ cho phải miễn trong việc nhất phu, nhất phụ thì các việc khác liền được an.”.[305]

Tại Việt Nam, một thời gian dài cho đến tận đầu thế kỷ XX kinh, bổn, giáo lý... được soạn, in bằng chữ Hán - Nôm (chữ Nho). Tín đồ được xem là có hiểu biết trong xứ, họ đạo, làng Công giáo cho đến trước năm 1945 là những người biết chữ Nho, những người Nho học. Họ học chữ Nho từ các “thầy đồ” ở làng lương. Họ được phép mang đồ lễ tặng thầy, chỉ không được thờ cúng, bái lạy Khổng Tử. Các xứ, họ đạo, làng Công giáo nào có người Công giáo biết chữ Nho thì giáo dân phải học người đó, không được học thầy đồ là lương dân. Một trong những họ (hội đoàn) ra đời sớm là hội Nho gia tập hợp những thầy đồ là tín đồ Công giáo. Chính vì vậy mà Công giáo đã để lại cho Việt Nam một di sản Hán - Nôm quen gọi là Nôm đạo khá đồ sộ.[305]

Tư tưởng Nho giáo thể hiện ở một số công trình kiến trúc Công giáo và cả trong những câu đối ở nhà thờ Công giáo. Nhà thờ chính toà Phát Diệm (Kim Sơn - Ninh Bình) mặt bằng kiến trúc theo hướng Bắc - Nam. Giữa ao hồ dựng tượng chúa Giêsu làm vua nhìn về hướng Nam, hai tay giang rộng. Hướng Nam là hướng của Thánh nhân theo quan niệm: Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ (Thánh nhân nhìn về hướng nam nghe thiên hạ giãi bày). Nhà thờ đá trong khu quần thể nhà thờ chính toà tạc biểu tượng lưỡng nghi/âm dương phía mặt sau hình sư tử và phượng hoàng. Chấn song phương đình là hình thân trúc. Trúc là biểu hiện tính ngay thẳng của người quân tử.[305]



Trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]


Trong tác phẩm Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê nhận xét: "Khổng Tử chủ trương vua phải là người có tài, đức; nhưng thời ông, sự truyền tử đã có từ lâu đời, không thể bỏ được; ông chỉ có thể cải thiện chế độ, đào tạo những kẻ sĩ có tài, để giúp quý tộc và lần lần thay họ mà trị nước. Những kẻ sĩ đó đều được tuyển trong dân chúng, và từ nhà Hán, nhà Đường trở đi, chế độ quân chủ Trung Hoa có tính cách sĩ trị, không còn giai cấp quý tộc cha truyền con nối nắm hết các chức vụ lớn ở trong triều, ngoài quận nữa. Đó là một tiến bộ rất lớn, người phương Tây phải khen. Ông lại giảm bớt quyền chuyên chế của vua bằng cách đề cao nhiệm vụ, tư cách của sử quan, gián quan; dạy cho vua, quan, kẻ sĩ và thường dân rằng vua phải thương dân như con, phải tôn trọng nguyện vọng của dân...; phải chăm lo cho dân đủ ăn, tài sản trong nước phải quân bình, đừng có kẻ nghèo quá, kẻ giàu quá. Suốt thời quân chủ, ông vua sáng lập một triều đại nào cũng nghĩ ngay đến vấn đề quân điền, chia đất cho dân cày trước hết. Sau cùng Khổng Tử có tinh thần nhân bản rất cao. Ông hiếu hoàn trọng trung dung, rất ghét sự tàn bạo, và đa số các vua chúa Trung Hoa theo ông."

Khổng giáo bao hàm lời dạy của các bậc hiền nhân Nho gia, mà là những chỉ dẫn về cách sống thuận theo đạo đức để con người được an vui, xã hội được vững mạnh. Những lời dạy này không được xem là những lời của Thượng đế mặc khải như Thánh Kinh của Thiên Chúa giáo hoặc Hồi giáo, tùy hoàn cảnh mỗi nước mà sẽ có những cách diễn giải khác nhau song không hề xung đột với nhau về ý tưởng chung và đều hướng con người đến đạo đức mẫu mực. Do đó, không hề có cuộc chiến tranh nào vì lý do tôn giáo trong lịch sử Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản hay Triều Tiên. Đó là một điều mà các học giả phương Tây rất ca ngợi các quốc gia Đông Á.

Dân tộc Trung Hoa đã nhiều lần bị ngoại tộc (Mông Cổ, Mãn Thanh...) xâm chiếm, nhưng văn hiến của họ thì không gươm giáo nào hủy hoại được, ngược lại còn đồng hóa luôn những kẻ đã chinh phục họ, ấy là nhờ một phần lớn ở những tư tưởng sâu xa của Nho giáo đã trui rèn nên một tầng lớp Nho sĩ thông thuộc kinh sử và giàu phẩm chất đạo đức.

Nho giáo là một hệ thống triết học mang tính khai sáng. Nhờ Nho giáo trong thời Trung cổ Trung Quốc đã đạt đến một trình độ văn minh hàng đầu thế giới, hơn hẳn phương Tây khi đó đang chìm trong "đêm trường Trung cổ". Phương Tây chỉ vượt qua Trung Quốc khi xuất hiện các phong trào tri thức như Phục hưng, Khai sáng và cuộc cách mạng công nghiệp dựa trên nền tảng tri thức do các phong trào này tìm ra. Nhờ Nho giáo, người Trung Quốc không ai không xem trọng giáo dục. Khi nhà Hán lập quốc, chính sách của quốc gia có tám chữ "Dựng nước an dân, giáo dục làm đầu". "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", hoàn toàn dùng giáo dục. Do vậy Trung Hoa trải qua hơn 2.000 năm, dù thịnh suy mỗi lúc khác nhau, nhưng đất nước của họ vẫn không hề lụn bại, trong khi các đế chế khác như La Mã, Ba Tư... cứ lần lượt xuất hiện rồi sụp đổ. Việc này ngay đến người ngoại quốc cũng khen ngợi. Không phải chính trị, không phải vũ lực của Trung Quốc, cũng không phải là kinh tế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, mà chính văn hiến của Trung Quốc mới là vũ khí mạnh nhất của họ, giúp đất nước họ trường tồn. Mà gây dựng nên nền văn hiến đó, công đầu thuộc về Nho giáo.

Will Durant thì khen ngợi chế độ giáo dục đạo đức sĩ phu mà Khổng Tử chủ trương. Ông viết: "Một xã hội mà nghĩ rằng phải thử dùng vào việc trị nước những người được đào tạo bằng triết học và cổ điển học, nội điều đó cũng đáng phục rồi. Chế độ ấy và tất cả nền văn minh làm cơ bản cho nó ngày nay bị lật đổ, tiêu diệt vì sức mạnh khốc liệt của sự tiến triển và của lịch sử, điều đó đáng kể là một tai họa cho nhân loại... giá Platon biết được chế độ đó chắc phải thích lắm."[306]


Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]


Một số học giả cho rằng Nho giáo có tác động tích cực lên sự phát triển của nền kinh tế các nước Đông Á. Đạo đức Nho giáo đề cao sự chăm chỉ và tiết kiệm[307]. Đây có thể là nguyên nhân khiến các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo như Hàn Quốc và Đài Loan có tỷ lệ tiết kiệm cao[307] nên có thể phát triển kinh tế nhanh chóng[308]. Nhìn chung chính sách kinh tế vĩ mô của các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhấn mạnh vào việc tăng năng suất lao động và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, chú trọng giáo dục đào tạo bằng cách phân bổ nhiều ngân sách cho mục đích này, nhấn mạnh vào tiết kiệm quốc gia, tăng thặng dư ngân sách, tăng dự trữ quốc gia, chống tham nhũng, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch và hiệu quả, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng xuất khẩu, khuyến khích tinh thần kinh doanh, hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập...[309] Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều dựa vào Nho giáo để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, vừa khuyến khích vật chất, vừa cổ vũ tinh thần, gắn lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, thống nhất nghĩa và lợi, kết hợp sự tu dưỡng đạo đức với việc tính toán làm giàu. Các nước đó đều cố gắng khai thác Nho giáo ở mặt khuyến khích làm giàu chính đáng bằng cách nhắc lại câu nói của Khổng Tử: “nước vô đạo mà anh trở nên giàu có là một điều đáng xấu hổ, nhưng nước có đạo mà anh lại không làm giàu được cũng là một điều đáng xấu hổ[310].

Phan Ngọc là người có nhiều công trình hơn cả bàn đến ưu thế của các giá trị châu Á trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Trước sau ông đều đề cao giá trị Nho giáo, giá trị văn hoá dân tộc và tin tưởng vào ảnh hưởng tích cực của nó trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Phan Ngọc viết:


"Khổng học tồn tại được 2.000 năm ở một phần ba nhân loại, dù có bị xuyên tạc, cũng là một giá trị của châu Á. Không những thế, nó không chỉ là một giá trị của châu Á mà của cả nhân loại trong giai đoạn mới này khi thế giới cần phải hiểu những giá trị của châu Á cũng như châu Á cần phải hiểu những giá trị của thế giới".[302]

Về những giá trị châu Á cụ thể, trong "Bản sắc văn hoá Việt Nam", Phan Ngọc coi những giá trị ưu trội của văn hóa châu Á là:


  • Ham học, thông minh và tháo vát, nhạy bén với mọi thay đổi.

  • Cần cù, chịu khó, thích nghi với hoàn cảnh.

  • Gắn bó với tổ quốc, họ hàng, gia đình.

  • Thích sống một cuộc sống giản dị, không bị những đòi hỏi vật chất dày vò, lo cho con cháu còn hơn lo cho chính mình.

Phan Ngọc coi những phẩm chất nói trên là ưu thế của Nho giáo trong thời đại ngày nay. Khái quát từ thực tế các quốc gia có văn hoá Nho giáo, viện dẫn chính Khổng Tử và quan điểm của Hồ Chí Minh, Tôn Dật Tiên... nói về ưu thế của Nho giáo, Phan Ngọc đã trình bày rất ấn tượng về những phẩm chất này. Ông viết:


"Tâm thức là cái không cần học cũng biết. Việt kiều hầu như không biết gì tới Nho giáo, ngoài miệng đả kích Nho giáo kịch liệt, nhưng họ vẫn vươn lên từ những địa vị thấp kém nhất để trở thành những người làm chủ kinh tế, khoa học kỹ thuật chính nhờ truyền thống ham học mà Khổng Tử đề xướng. Số ngoại kiều ở các nước hết sức đông đảo, nhưng ngoài các nước theo văn hoá này, chỉ thấy có người Do Thái là sánh được với họ mà thôi... Những người theo Khổng giáo thích sống một cuộc sống giản dị, không bị những đòi hỏi vật chất giày vò, trái lại tìm thấy niềm vui trong cuộc sống hài hoà với mọi người chung quanh, đặc biệt họ gắn bó với gia đình, lo cho con cháu còn hơn lo cho chính mình".[302]

Học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét:


"Đạo Nho quy định nhất cử nhất động của cá nhân trong gia đình và xã hội để giữ tình cảm được trung hoà. Trẻ em năm, sáu tuổi đã phải vào khuôn phép nghiêm ngặt, phải nén bản tính ham chạy nhảy, la hét, mà đứng ngay ngắn nghe chuyện đạo lý của người lớn. Tám tuổi, đã phải khăn áo chỉnh tề đứng chắp tay bên bàn thờ những ngày giỗ tết... Nhiều nhà nho có được một tư cách cao, một nhân phẩm quý phần lớn là nhờ được đào luyện trong khuôn khổ lễ nghi ấy."

Thời nay chúng ta hiểu tâm lý trẻ em một cách khác, không uốn nắn tre non mà để cho nó tự nhiên phát triển; trẻ được tự do, có khi phóng túng, tha hồ đùa giỡn, hét la. Nhiều khi những cử chỉ hỗn xược, những lời vô lễ của chúng lại được khen là tinh ranh, là ngây thơ. Trẻ muốn gì được nấy, thành những bạo chúa tí hon trong nhà. Ở trường, người ta chỉ chú trọng đến trí dục, cốt dạy thanh niên biết nhiều khoa học. Luân lý trở thành một môn học phụ và giáo sư luân lý thì bị học sinh chê là cổ hủ.

Vậy là cả nhà và trường đều không lo đào luyện tư cách thanh niên, nên phần đông nhà trí thức bây giờ xét về nhân phẩm kém xa các nhà Nho. Họ họp thành một bọn trưởng giả hãnh tiến, không phải là hạng thượng lưu được quốc dân trọng vọng như các cụ cử, cụ nghè thời trước. Ai cũng nhận thấy nhiều ông tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư tư cách không bằng một chú thợ, một anh bếp."

Nhà nghiên cứu Trần Phong Lâm cho rằng, các nhà doanh nghiệp Đông và Tây đều giống nhau ở chỗ chạy theo lợi nhuận, nhưng nhà doanh nghiệp có văn hoá Nho giáo thì vẫn chạy theo lợi nhưng không được (hoặc không dám) bỏ Nghĩa, bởi "Quân thị thần như thủ túc, tác thần sự quân như phúc tâm". Trần Phong Lâm khẳng định mạnh mẽ và tôn vinh rất cao các giá trị Đông Á mà trong đó giá trị văn hoá Nho giáo là trụ cột:


Trước sự tha hoá và lộn xộn của quan niệm giá trị toàn cầu, quan niệm giá trị Đông Á cần đảm đương lấy trách nhiệm nặng nề của thời đại là vực dậy sự băng hoại của tinh thần loài người... Nhân dân Đông Á chiếm khoảng một phần ba nhân loại đã tạo ra cho loài người những di sản vô cùng quý giá trong mọi lĩnh vực, làm cho tương lai loài người tràn đầy hy vọng. Đông Á nhất định sẽ bước vào hàng ngũ những người quyết định số phận chung của loài người... Nếu trong thời kỳ tới đây văn hoá phương Tây không tạo ra được một cuộc phục hưng văn nghệ mới thì hoàn toàn có thể sẽ xuất hiện một thế kỷ mới, trong đó văn hoá phương Đông sẽ thống lĩnh trào lưu văn hoá thế giới.[302]

Có những ý kiến chỉ trích Khổng giáo là lỗi thời, kìm hãm xã hội. Nhưng tác giả Nguyễn Văn Ngọc nhận xét:


"Các học giả Pháp, Mĩ và cả Nga nữa, nay đều thấy tác dụng của Khổng giáo đối với sự phát triển kinh tế của Nhật Bản. Đối với người Nhật hay đối với một số nước mà họ gọi là "Hán hóa" khác thì truyền thống đã không cản trở sự phát triển, trái lại các nước ấy đã biết biến truyền thống lễ giáo thành một thứ "mùn" để ươm trồng lên đó những cây cố tươi tốt... Liệu sau này chúng ta có sửa đổi gì được cái định kiến ngốc nghếch của chúng ta về Hán học, và nói chung về nền văn minh phương Đông mà vì "Bụt chùa nhà không thiêng", chúng ta quá coi thường. Những câu chuyện thường ngày mà chúng ta hằng quan tâm đồng thời cũng là những vấn đề đạo đức muôn thuở, ôn lại những lễ giáo cổ xưa của nhân loại lại giúp ta suy ngẫm chuyện đời nay."[311]

Học nhiều tri thức không có nghĩa là có đạo đức. Tri thức rất cần cho phát triển nhân loại nhưng thiếu đạo đức thì xã hội sẽ rối loạn, nhân loại sẽ suy đồi. Khoa học kỹ thuật tiến bộ rất nhanh trong thế kỷ XX, nên đời sống vật chất cải thiện rất nhiều. Nhưng đời sống vật chất càng tiến bộ, thì mặt trái của xã hội tiêu dùng càng bộc lộ rõ, nền đạo đức và quan hệ giữa người với người càng xấu đi, nhất là làm cho mọi người mất niềm tin với nhau. Nho giáo từ hơn 2.500 năm trước đã thấy rõ được điều này. Cổ nhân từ xưa đã có câu "Ôn có tri tân" (Nhắc lại việc cũ để ngẫm về chuyện thời nay), việc ôn lại các giá trị, lời dạy của Nho giáo vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.[312]

Robert D. Kaplan, chuyên gia cao cấp tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS), nhận xét[313]:


Sự trỗi dậy của châu Á trong thời hiện đại có liên quan mật thiết với việc sự ổn định xã hội mà Nho giáo khích lệ đã tương tác với chủ nghĩa tư bản hiện đại như thế nào... Những nhà lập quốc của nhiều nước châu Á – Phác Chính Hy của Hàn Quốc, Tưởng Giới Thạch của Đài Loan, Lý Quang Diệu của Singapore – tất cả đều chủ ý theo Nho giáo trong khi chèo lái qua những khó khăn trên con đường tạo lập xã hội hiện đại. Đối với Trung Quốc, một trong những yêu cầu để thoát khỏi tình trạng tham nhũng và sự thiếu hiệu quả chính là khôi phục lại các giá trị nền tảng của Đạo Khổng.

Không có gì là ủy mị hay ngây thơ trong những lời răn như: "Mọi người phải hướng đến một tiêu chuẩn cao bình đẳng, tất cả dựa trên sự tôn trọng đối với kinh nghiệm của thế hệ đi trước". Trong đạo Khổng, quá khứ không phải là thứ để chê bai là cổ hủ hay lạc hậu; quá khứ tạo nên kinh nghiệm cho con người, và hiện tại phụ thuộc vào lịch sử. Đặc biệt trong thời đại thay đổi xã hội và công nghệ sâu sắc, các Nho sĩ nhận ra thứ bảo vệ tốt nhất chống lại sự hỗn loạn chính là truyền thống, "trung" và "hiếu". Khổng giáo nói về việc bảo tồn sự cân bằng tinh tế giữa người với người và giữa các cá nhân bên trong các tổ chức chính trị và xã hội.

Thế giới nói chung vẫn đang trong quá trình chuyển tiếp hỗn loạn, khi lối sống và cấu trúc gia đình truyền thống đang bị băng hoại trên khắp các châu lục. Trong thử thách này, sự sống sót về mặt xã hội và chính trị sẽ đến với các nền văn hóa có thể bảo tồn một nền tảng đạo đức như một lá chắn trước sự thay đổi mang tính hủy diệt. Đông Á đã viết nên những câu chuyện lịch sử thành công không thể phủ nhận trong 4 thập niên qua, cho dù có vẻ giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ nhất đã qua rồi. Tôi dám cược rằng thời khắc của Nho giáo sẽ tiếp tục đến trong thời gian tới.

Hạn chế của Nho giáo với xã hội[sửa | sửa mã nguồn]


Do đã ra đời cách đây 2.500 năm, trong bối cảnh xã hội phong kiến nên một số nội dung của Nho giáo tỏ ra không còn phù hợp trong bối cảnh xã hội mới. Do vậy, việc nắm bắt những điểm hạn chế của Nho giáo trong bối cảnh hiện đại được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, nhằm "gạn đục khơi trong" để vừa có thể kế thừa các ưu điểm của Nho giáo, vừa có thể tránh lặp lại các hạn chế của học thuyết này[294]


Tư duy bảo thủ, giáo điều[sửa | sửa mã nguồn]


Lễ trong Nho giáo là sợi dây ràng buộc suy nghĩ và hành động của con người, khi bị lạm dụng thì nó trở nên cứng nhắc theo một khuôn phép cũ, dẫn tới tư duy mang tính bảo thủ, tiêu cực. Chính mặt hạn chế này của Nho giáo đã để lại tàn dư cho đến tận ngày nay, nó trở thành phong tục, lối sống, nó thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của không ít người ở các nước phương Đông, nơi tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của Nho giáo[294]

Tư tưởng chính danh trong Nho giáo khi bị lạm dụng sẽ gây ra kìm hãm tự do nhân cách, hạn chế sáng kiến mới của con người, làm cho con người luôn ở trạng thái nhu thuận, chỉ biết phục tùng theo chủ trương “thuật nhi bất tác” (chỉ thuật lại mà không sáng tác gì thêm).[294] Một đặc điểm nổi trội của Nho giáo là lối tư duy trọng cổ, thích đem những điều tốt đẹp của người xưa ra làm chuẩn mực cho đời nay noi theo vì vậy khi xử lý các vấn đề mới chưa từng có trong lịch sử, giới Nho sĩ thường lúng túng dẫn đến tư duy hạn hẹp, tầm nhìn ngắn, hạn chế trên nhiều phương diện. Nhất là khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây có quá nhiều điểm khác biệt mà người phương Đông chưa từng biết đến, những người xuất thân Nho học thường tự thu mình lại, tự cô lập và cách biệt, tự đóng khung mình trong những khuôn khổ cũ có sẵn do thế hệ trước tạo dựng, ngại hòa nhập và khó hòa hợp khiến những cái mới khó xâm nhập. Cũng vì quá cảnh giác với các thế lực ngoại bang nên hệ thống chính quyền dựa trên tư tưởng Nho giáo thường "dị ứng" với những biến đổi nội tại và ảnh hưởng của ngoại lai, từ đó sẽ cản trở việc tiếp thu cái mới và hậu quả là cản trở sự phát triển của chính hệ thống.[314]


Tư tưởng chạy theo danh vọng[sửa | sửa mã nguồn]


Tư tưởng chính danh của Nho giáo quá đề cao danh phận. Một mặt nó giúp con người biết phấn đấu vươn lên, giành địa vị cao trong xã hội, nhưng nếu tư tưởng này bị lạm dụng thì sẽ khiến cho con người có tư tưởng hám danh, chạy theo danh, theo chức đến mức quên cả luân thường đạo lý[294].


Bất bình đẳng xã hội[sửa | sửa mã nguồn]


Mục đích của chính danh mà Nho giáo đề cao là sự ổn định xã hội, nhưng được các triều đại phong kiến dùng để bảo vệ quyền của thiên tử, duy trì sự phân biệt đẳng cấp[294]. Nho giáo chỉ chú trọng đến phương diện đạo đức nên nó chưa hướng con người đến sự phát triển đầy đủ, toàn diện. Hơn nữa, mặc dù vẫn khẳng định tu thân là nhiệm vụ của tất cả mọi người, từ thiên tử cho đến dân thường, song Nho giáo nhấn mạnh đến việc học tập, tu dưỡng của những con người thuộc giai cấp thống trị, vạch ra những tiêu chí phấn đấu cụ thể cho giai tầng này - mà mục đích tối cao là nhằm để xây dựng xã hội thái bình, thịnh trị vì chỉ có những người thuộc tầng lớp đó mới có đủ điều kiện và khả năng để lãnh đạo, quản trị quốc gia. Mặt khác, trên thực tế giai cấp phong kiến qua các triều đại thường đề ra những quy tắc, chuẩn mực khắt khe để gò ép thần dân của mình vào khuôn khổ của lễ giáo nhưng cũng có những cá nhân của giai cấp này phớt lờ những yêu cầu đạo đức do chính họ đề ra.[315]

Do là một hệ thống triết học ôn hòa, bảo vệ cho lễ giáo và trật tự xã hội nên Nho giáo không nhấn mạnh vai trò và sức mạnh “cải tạo xã hội” của những con người và gia đình, gia tộc thuộc tầng lớp bị áp bức, bóc lột[316].

Sự đề cao gia đình, gia tộc theo quan niệm của Nho giáo khi bị làm dụng quá mức đã dẫn đến tác dụng phụ, đó là hiện tượng đặt tình cảm gia đình quá nặng; sự tính toán cho danh lợi riêng của gia đình mình quá lớn, dẫn đến sự ra đời và tồn tại dai dẳng của chế độ gia đình trị. Đó là các gia đình thuộc tầng lớp thống trị sẽ dùng sức mạnh gia đình riêng của mình để thống trị cả nước và thiên hạ. Mặc dù chế độ phong kiến bị xóa bỏ, nhưng chế độ gia đình trị vẫn còn tồn tại dưới nhiều hình thức biến tướng khác nhau. Trong phạm vi một tổ chức, một cơ quan, nhất là ở các địa phương và khu vực nông thôn vẫn còn nhiều kiểu biến dạng của chế độ gia đình trị. Hiện tượng đó dẫn đến sự vi phạm quyền làm chủ của dân, bóp nghẹt dân chủ, kéo bè kéo cánh, cửa quyền, gây thiệt hại tài sản chung, cản trở và làm chậm bước tiến đổi mới. Đó chính là tình trạng “gia đình hóa” các cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội, các công việc chung, của công, các quan hệ đồng nghiệp đang trở nên phổ biến. Ảnh hưởng nữa rất rõ của biểu hiện này đó là tác phong gia trưởng trong các tổ chức và cơ quan công quyền. Ở nhiều nơi, thủ trưởng được coi như người gia trưởng và cơ quan được coi như là một gia đình. Thủ trưởng có thể ban ơn hay quở trách tùy theo sự yêu mến hay ghét bỏ của mình. Tác phong gia trưởng ấy bắt nguồn từ lối sống và lối làm việc gia đình chủ nghĩa đã tồn tại lâu dài trong nhiều thế kỷ. Hậu quả của nó là sự trì trệ, bảo thủ, quan liêu trong tư duy và hành động.[316].

Việc cai trị gắn liền với tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức, chính danh... được triều đại phong kiến sử dụng để biện minh cho lối cai trị, quản lý xã hội một cách tùy tiện, chuyên quyền, không dân chủ (nhất là khi các nhân các vị vua là bạo chúa hoặc có tư chất kém cỏi). đã nhiều năm thấm vào hệ thống quyền lực xã hội, hệ thống giáo dục, vào suy nghĩ và hành xử của con người... ngày nay vẫn tạo ra vướng mắc, cản trở sự phát triển của xã hội.[314]





  1. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 11

  2. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 291

  3. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 61

  4. ^ Đạo Phật: Nhập Thế Hay Xuất Thế?

  5. ^ Giáo Lý Đạo Phật và Các Vấn đề Xã Hội, Quốc gia Qua Kinh Tạng Nikàya

  6. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 231

  7. ^ “Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Hàn Quốc 2010”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  8. ^ No Enemies, No Hatred. Xiaobo Liu,E. Perry Link, Tienchi Martin-Liao. P 189

  9. ^ Confucius Institute: promoting language, culture and friendliness, Xinhua, ngày 2 tháng 10 năm 2006.

  10. ^ Rectification of statues, The Economist, Jan 20th 2011

  11. ^ “Nho giáo”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  12. ^ Xi Jinping, Xi Jinping's Speech in Commemoration of the 2,565th Anniversary of Confucius' Birth, China-United States Exchange Foundation

  13. ^ a ă “Đạo đức xuống cấp, người Hàn tìm về Nho giáo - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  14. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 17

  15. ^ “Danh ngôn”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 

  16. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 27-29

  17. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 396

  18. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 406

  19. ^ Kim Định, Căn bản trong triết lý văn hóa Việt Nam. Chương VI: Từ Văn tổ tới Văn miếu; mục 6e: Vạn thế sư biểu

  20. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 116

  21. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 227

  22. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 70

  23. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 71-72

  24. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 145

  25. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 315-316

  26. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 146

  27. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 111

  28. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 74

  29. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 31-32

  30. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 171

  31. ^ a ă â Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 32

  32. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 45

  33. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 156

  34. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 277

  35. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 45-46

  36. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 48

  37. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 50

  38. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 59

  39. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 56

  40. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 58

  41. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 228

  42. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 385

  43. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 99

  44. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 121

  45. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 200

  46. ^ Kinh Pháp Cú, trang 21, GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, Công ty CP Văn hóa Thiện tri thức, 2014, ISBN 978-604-86-1707-3, download

  47. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 399

  48. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 270

  49. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 63-64

  50. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 352

  51. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 273

  52. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 64

  53. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 346

  54. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 148

  55. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 172

  56. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 68

  57. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 78

  58. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 81-82

  59. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 85

  60. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 102

  61. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 201

  62. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 218

  63. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 219

  64. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 220

  65. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 247

  66. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 364

  67. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 363

  68. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 346

  69. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 351

  70. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 402

  71. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 130

  72. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 132

  73. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 155

  74. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 378

  75. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 133

  76. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 178-179

  77. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 297

  78. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 253

  79. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 132

  80. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 276

  81. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 347-348

  82. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 350

  83. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 33

  84. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 77-78

  85. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 105

  86. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 197

  87. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 35

  88. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 376

  89. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 357

  90. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 356

  91. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 31

  92. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 28

  93. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 371

  94. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 121-122

  95. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 93-94

  96. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 374-375

  97. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 364-365

  98. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 94

  99. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 299

  100. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 123

  101. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 270

  102. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 19

  103. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 138

  104. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 375

  105. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 369

  106. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 379

  107. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 334

  108. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 199

  109. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 366

  110. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 33-34

  111. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 400

  112. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 237-238

  113. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 270-271

  114. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 34-35

  115. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 362

  116. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 52-53

  117. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 87-88

  118. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 281

  119. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 162

  120. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 163

  121. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 88

  122. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 75-76

  123. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 373

  124. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 390

  125. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 367-368

  126. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 16

  127. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 135

  128. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 229

  129. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 266

  130. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 354

  131. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 379

  132. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 391

  133. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 259

  134. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 101

  135. ^ Trích Chương đầu Khai tông minh nghĩa (Mở ra cái gốc để giảng cho rõ nghĩa) của Hiếu Kinh

  136. ^ a ă â Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 127

  137. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 175

  138. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 176

  139. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 115

  140. ^ Những đứa con bất hiếu, Phụ Nữ Thủ đô, 22/03/2013

  141. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 380

  142. ^ Luận Ngữ, Nhan Uyên XII, II. Luận Ngữ, Đoàn Trung Còn, Trí Đức Tòng Thơ, tr.189.

  143. ^ Tứ Thư Ngũ Kinh với vấn đề giáo dục gia đình, Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

  144. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 29

  145. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 26

  146. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 27

  147. ^ “Nho giáo va ảnh hưỏng của nho giáo trong văn hóa tinh thần ở nước ta”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 

  148. ^ Quan niệm của Nho giáo về gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay, Đặng Thị Hồng Hạnh

  149. ^ “Con người Việt Nam với truyền thống văn hóa Nho giáo hóa”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 

  150. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 170

  151. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 11-12

  152. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 24-25

  153. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 342

  154. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 74

  155. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 389

  156. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 166

  157. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 165

  158. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 164

  159. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 393

  160. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 301

  161. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 167-168

  162. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 396

  163. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 392

  164. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 260

  165. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 293

  166. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 270

  167. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 165-166

  168. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 252

  169. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 166-167

  170. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 267

  171. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 223

  172. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 229

  173. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 344

  174. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 169

  175. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 226

  176. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 241

  177. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 169-170

  178. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 142

  179. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 174

  180. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 272

  181. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 259-260

  182. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 262

  183. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 301

  184. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 222

  185. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 194

  186. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 198

  187. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 140

  188. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 177

  189. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 117

  190. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 163

  191. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 341

  192. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 257

  193. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 345

  194. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 99

  195. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 302

  196. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 393

  197. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 355

  198. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 348

  199. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 246

  200. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 268

  201. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 389

  202. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 358-359

  203. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 392

  204. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 87

  205. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 89-90

  206. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 92-93

  207. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 360

  208. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 23 - 24

  209. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 177

  210. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 110

  211. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 264

  212. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 388

  213. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 117-118

  214. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 119

  215. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 351

  216. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 256

  217. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 372-373

  218. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 103

  219. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 93

  220. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 175

  221. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 203

  222. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 387

  223. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 178

  224. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 386

  225. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 330-331

  226. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 393

  227. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 293-294

  228. ^ a ă Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 215

  229. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 296

  230. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 189

  231. ^ Kinh Pháp Cú, trang 76 - 77, GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, Công ty CP Văn hóa Thiện tri thức, 2014, ISBN 978-604-86-1707-3, download

  232. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 91-92

  233. ^ “Tư tưởng đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta hiện nay Tu”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  234. ^ “Quan niệm của Nho giáo về đạo làm người”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  235. ^ NHO GIÁO, MỘT TRONG NHỮNG CỘI NGUỒN VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, GVC ThS Hoàng Ngọc Vĩnh, ThS Hoàng Trần Như Ngọc, Đại học Khoa học Huế

  236. ^ Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 46

  237. ^ CÁC GIÁ TRỊ TÍCH CỰC TRONG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN (Ths. Trương Nữ Vân Thi & Ths. Lâm Ngọc Như Trúc), Ths. Trương Nữ Vân Thi & Ths. Lâm Ngọc Như Trúc, Trường đại học Bà Rịa Vũng Tàu

  238. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 139

  239. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 131

  240. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 271

  241. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 272

  242. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 107-108

  243. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 129

  244. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 221

  245. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 109

  246. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 133

  247. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 79

  248. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 370

  249. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 235-236

  250. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 317

  251. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 131

  252. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 134

  253. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 250

  254. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 275

  255. ^ Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 168

  256. ^ Trần Trọng Kim. Một cơn gió bụi. Vietbooks, 2010. Tr 156

  257. ^ Confucianism a vital string in China's bow, Jian Junbo, Asia Times Online, 9. Oktober 2009.

  258. ^ A message from Confucius; New ways of projecting soft power, Economist.com, 22. Oktober 2009.

  259. ^ “Vận mệnh và tương lai của Nho giáo truyền thống ở Đông Á hiện nay”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  260. ^ “Phần thi áo tắm lần đầu tiên bị loại khỏi cuộc thi sắc đẹp Trung Quốc”. Báo điện tử Dân Trí. Truy cập 7 tháng 9 năm 2015. 

  261. ^ a ă “Nho giáo Nhật Bản và Nho giáo Việt Nam”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  262. ^ 脱亜論(全文), 時事新報』1885(明治18)年3月16日

  263. ^ Thoát Á luận – Fukuzawa Yukichi, tuanvietnam, 15.01.2010

  264. ^ a ă â b c “Hình tượng « Đông Á bệnh phu » trong văn học duy tân Đông Á, Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  265. ^ a ă Minh Trị Thiên Hoàng - Người đặt nền móng cho sự 'Thần kỳ Nhật Bản', Lê Thái Dũng, Tạp chí Nhà quản lý số 27 tháng 09/2005

  266. ^ Sakaiya Taichi, Mười hai người lập ra nước Nhật, Chương I: Thái tử Shotoku, Đặng Lương Mô biên dịch, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.

  267. ^ Nho giáo và phát triển ở Việt Nam. Vũ Khiêu. Nhà xuất bản Khoa học xã hội. 1996

  268. ^ Vai trò của giáo dục đối với quá trình hiện đại hoá trong thời kỳ Minh Trị ở Nhật Bản, Nguyễn Kim Lai, Đặng Thị Tuyết Dung, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản

  269. ^ Thẩm Kiên, 10 Đại Hoàng đế thế giới, trang 290

  270. ^ a ă “Tư tưởng Nho giáo trong hương ước chữ Hán Triều Tiên, tham chiếu với hương ước Việt Nam”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 

  271. ^ a ă “ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH HÀN QUỐC HIỆN ĐẠI (Phần 1)”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 

  272. ^ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH HÀN QUỐC HIỆN ĐẠI (Phần 2), TS. Lý Xuân Chung, Trung tâm Nghiên cứu Hàn Quốc,

  273. ^ Tầm nhìn vĩ đại của Lý Quang Diệu, cafebiz.vn

  274. ^ Quyền tri phủ phủ Thuận An Nguyễn Kim Hoa (quê xã Bá Thuỷ, huyện Gia Phúc) tạo tượng Tiên thánh, đề ngày 8 tháng 8 năm Vĩnh Khánh thứ nhất (1729)

  275. ^ Trần Ngọc Thêm, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản GD 1999

  276. ^ Luận văn tốt nghiệp đại học K35_02(2009 - 2013) ngành sư phạm Giáo dục Công dân, Đại học Cần Thơ

  277. ^ a ă â Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam, Tạp chí Triết học, Nguyễn Tài Thư, Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

  278. ^ Giới trí thức tinh hoa trong lịch sử Việt Nam, Tạp chí Tia sáng, 09/09/2010

  279. ^ L. Cadière, Philosophie populaire annamite, Anthropos, Bd. 2, H. 1. (1907), pp. 116

  280. ^ Nguyễn Đức Sự Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam, Văn hóa Nghệ An Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam, Văn hóa Nghệ An

  281. ^ Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam Nguyễn Đức Sự, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 19/1/2011

  282. ^ Lịch sử châu Á, Nhà xuất bảnTG, H2007, p104

  283. ^ Phụ Nữ Tân Văn ngày 5 Tháng Mười 1933

  284. ^ ĐỀ CƯƠNG VỀ VĂN HOÁ VIỆT NAM, Trường Chinh, 1943, Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.316-321

  285. ^ Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam, Nguyễn Đức Sự, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 19/1/2011

  286. ^ Sách mới về Hồ Chí Minh, BBC Vietnamese Online

  287. ^ “Về cội nguồn Nho giáo của những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Truy cập 8 tháng 3 năm 2015. 

  288. ^ “Giáo xứ St. Barbara tổ chức lễ giỗ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm”. Truy cập 27 tháng 4 năm 2015. 

  289. ^ Miller, Edward (ngày 16 tháng 4 năm 2009). “Đánh giá lại Ngô Đình Diệm”. BBC. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2013. 

  290. ^ Báo Văn hóa, ngày 16 tháng 12 năm 1996, p3

  291. ^ Đinh Hạnh Nga: Ảnh hưởng của Nho giáo đến các quy định pháp luật Việt Nam về mối quan hệ giữa vợ và chồng

  292. ^ Đinh Hạnh Nga: Ảnh hưởng của Nho giáo đến các quy định pháp luật Việt Nam về mối quan hệ giữa vợ và chồng

  293. ^ a ă Ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài đến văn hóa Việt Nam giai đoạn hiện nay, Lê Thị Anh, Tạp chí Cộng sản, 5/12/2013

  294. ^ a ă â b c d Tư tưởng đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta hiện nay

  295. ^ Báo Văn hóa, ngày 16 tháng 12 năm 1996, p3

  296. ^ “Cách mạng xưng hô”… từ mồm miệng đến chân tay, 11/07/2015, Báo Lao động

  297. ^ Vài suy nghĩ về cách xưng hô trong công sở, Báo điện tử Dân trí

  298. ^ Văn hóa xưng hô của người Việt, Nguyễn Thị Diễm Phương, Khoa Việt Nam học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp.HCM

  299. ^ “NHO GIÁO TRONG TƯƠNG LAI VĂN HÓA VIỆT NAM”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 

  300. ^ Nho Giáo xưa và nay-Nhà xuất bản KHXH – 1979, p38,45

  301. ^ “Tạp chí Cộng sản”. Truy cập 17 tháng 11 năm 2015. 

  302. ^ a ă â b Vấn đề giá trị quan châu Á: Nghiên cứu so sánh châu Á và phương Tây, Hồ Sĩ Quý, Viện Thông tin KHXH Việt Nam

  303. ^ Frankel, James (2009). “Uncontrived Concord: The Eclectic Sources and Syncretic Theories of Liu Zhi, a Chinese Muslim Scholar”. Journal of Islamic Studies 20: 46–54. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011. 

  304. ^ a ă Con người Việt Nam với truyền thống văn hóa Nho giáo hóa, Trần Đình Hượu.

  305. ^ a ă â b MỐI QUAN HỆ GIỮA NHO GIÁO VÀ CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM, NGUYỄN HỒNG DƯƠNG, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Thông báo Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 2008

  306. ^ Sử Trung Quốc. Nguyễn Hiến Lê. Chương 3

  307. ^ a ă Takeshi Kikuchi, Japanese distribution chanels, page 5, The Haworth Press, 1994

  308. ^ Krugman, Paul. The Myth of Asia’s Miracle. Foreign Affairs, November – December 1994,73(6), pp. 62–78.

  309. ^ The Economic Value of Confucianism, Sheh Seow Wah, Today's Manager Issue 1, 2015, Singapore Institute of Management

  310. ^ Về giá trị đương đại của Nho giáo Việt Nam, Vũ Khiêu, Tap chí Triết học, số 8 (219), tháng 8 - 2009

  311. ^ Cổ học Tinh hoa. Nhà xuất bản Văn học. Trang 386

  312. ^ Cổ học tinh hoa. Nhà xuất bản Văn học. Lời dẫn

  313. ^ Châu Á trỗi dậy là nhờ các giá trị Khổng giáo

  314. ^ a ă Ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

  315. ^ Vấn đề phương pháp chính trị trong học thuyết Nho gia

  316. ^ a ă Tư tưởng Nho giáo về gia đình




No comments:

Post a Comment