Friday, October 26, 2018

Liên quân tám nước – Wikipedia tiếng Việt


Liên quân tám nước hay Bát Quốc Liên Quân (八國聯軍) là liên minh của tám quốc gia đế quốc nhằm chống lại sự nổi dậy của phong trào Nghĩa Hòa Đoàn tập kích vào các sứ quán của tám quốc gia này ở Trung Quốc. Tám nước đó gồm: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Nhật, Nga và Đế quốc Áo-Hung.

Liên quân tám nước phản công thành công Nghĩa Hòa Đoàn.




Cuối đời Thanh, nhân dân Trung Quốc luôn luôn bị đế quốc nước ngoài ức hiếp khiến các cuộc nổi dậy như Nghĩa Hòa Đoàn không ngừng phát triển, các nước đế quốc quyết định đưa quân trấn áp. Năm 1900, Tướng quân Đức Seymour (2) chỉ huy liên quân 8 nước tiến đánh Bắc Kinh.

Bị sự kháng cự của quân triều đình và Nghĩa Hòa Đoàn, liên quân 8 nước ban đầu gặp khó khăn. Liên quân bèn điều 32 tàu chiến cùng hơn một vạn lính lên bờ tiếp ứng. Họ đưa tối hậu thư cho Trấn tổng binh Thiên Tân La Vinh Quang chỉ huy pháo đài Đại Cô: “Hạn định trong vòng hai ngày phải giao nộp pháo đài để liên quân kiểm soát.” La Vinh Quang cự tuyệt yêu cầu vô lý của quân xâm lược, yêu cầu quân Thanh bảo vệ pháo đài lập tức có sự chuẩn bị. Quân xâm lược nước ngoài sợ “đêm dài nhiều mộng” còn chưa tới thời gian quy định đã từ hai phía đồng thời tiến công pháo đài. Quân đóng giữ pháo đài anh dũng chống cự, các chiến sĩ của Nghĩa Hòa Đoàn ở gần đó cũng phối hợp tác chiến. Qua gần bảy tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt, ngày 21 tháng 5 (tức ngày 17 tháng 6 dương lịch), pháo đài thất thủ. Sau khi quân xâm lược nước ngoài chiếm được pháo đài Đại Cô, trên dọc truyến đường sắt từ Đại Cô tới Thiên Tân, họ dán cáo thị: “Nếu có binh lính của Nghĩa Hòa Đoàn hay quân triều đình dám cản trở cuộc hành quân, chúng ta nhất định sẽ tăng cường sức mạnh, tiêu diệt tận sào huyệt”. Điều này đã là sự uy hiếp lớn với quân Nghĩa Hòa Đoàn và quân của triều đình. Từ Hy Thái hậu nghĩ: Trước mắt giờ có hai kẻ thù, một là nguời ngoại quốc và một là Nghĩa Hòa Đoàn. Sự uy hiếp của nguời nước ngoài với chúng ta ngày càng lớn, còn sức ép của nghĩa quân cũng có hạn. Vì thế, bà triệu tập hội nghị Ngự tiền đại thần, quyết định tuyên chiến với Liên quân tám nước, trên thực tế, bà để cho quân Nghĩa Hòa Đoàn giao chiến, còn bản thân thì “tọa sơn quan hổ đấu”.

Thái độ của quân Nghĩa Hòa Đoàn với quân Tây dương không giống thái độ của Từ Hy Thái hậu. Nghe nói quân Tây dương xâm phạm Thiên Tân, Nghĩa Hòa Đoàn đã vừa cho nguời phá hoại đường giao thông của kẻ địch và tiến hành chặn đánh vừa đưa quân tập kết về Thiên Tân chuẩn bị phòng thủ. Trương Đức Thành, Tào Phúc Điền, Dương Thọ Thần, Lưu Thập Cửu, Hàn Dĩ Lễ cùng các đại sư huynh, Lâm Hắc Nhi cùng đại sư muội đều cùng quân sĩ có mặt. Các lộ nghĩa quân giương cao đại kỳ, khua chiêng thúc trống, thổi hiệu ốc, rầm rầm rộ rộ tiến vào Thiên Tân mang theo mối thù quân xâm lược ngất trời, quyết tâm chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Nhân dân các nơi gần Thiên Tân cũng cùng phối hợp. Họ tặng cho quân Nghĩa Hòa Đoàn “Đắc thắng bính” (bánh chiến thắng), cờ chiến thắng; lôi kéo sự chú ý của nguời khắp nơi bằng tấm biển với hàng chữ “Nghĩa Hòa thần quyền, chiến vô bất thắng” để cổ động tinh thần chống quân xâm lược của nghĩa quân.

Quân xâm lược trước hết đưa quân chiếm nhà ga Lão Long Đầu. Nhà ga nằm trên đường tới Bắc Kinh, lại bắc cầu phao nối với Tô giới Tử Trúc Lâm ở bờ bên kia sông để liên hệ với quân ở đó. Nghĩa Hòa Đoàn để bảo vệ Bắc Kinh và cản trở quân Tây dương tất nhiên phải quyết tâm giành lại khu vực này. Vì thế đã xảy ra những trận quyết chiến giữa hai bên ở đây.

Quân Nga đang chiếm nhà ga nhờ đại pháo chiến đấu rất ngoan cường. Tào Phúc Điền, Hàn Dĩ Lễ chỉ huy quân chống cự rất anh dũng khiến cho đại pháo cũng mất tác dụng. Quân Tây dương xâm lược phải hoảng hồn kêu cứu, có nơi phải giương cờ trắng xin quân Thanh đình chiến. Quân Nghĩa Hòa Đoàn không thèm chú ý, tiếp tục thừa thắng xông lên, tiêu diệt tới hơn năm trăm quân xâm lược Nga, lấy lại được nhà ga Lão Long Đầu và phần đất phía bắc.

Cũng lúc đó, Trương Đức Thành mang hơn năm nghìn quân Nghĩa Hòa Đoàn trong “Thiên hạ đệ nhất đoàn” từ trấn Độc Lưu tới tiến công mãnh liệt vào tô giới Trúc Lâm. Trong tô giới, quân xâm lược chôn rất nhiều mìn để chờ quân Nghĩa Hòa Đoàn tiến vào. Trương Đức Thành lập tức cho nguời tìm mấy chục con trâu, đuôi trâu buộc rẻ tẩm dầu rồi châm lửa. Đàn trâu hoảng sợ lao về phía trước, đuôi trâu lửa bốc nghi ngút khiến trận địa náo loạn. Toàn bộ mìn do quân Tây dương chôn sẵn nổ inh tai nhức óc, “Địa lôi trận” của chúng phá sản. Quân Nghĩa Hòa Đoàn xốc tới, tiêu diệt rất nhiều quân xâm lược, thiêu hủy nhiều nhà cửa khiến bọn chúng thất điên bát đảo trong tô giới, không dám tiến đánh ra bên ngoài. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thiên Tân, một bộ phận quân triều đình cũng tích cực tham gia chiến đấu, có một số thậm chí gia nhập quân Nghĩa Hòa Đoàn. Nhưng Bang biện Bắc dương quân vụ đại thần Tống Khánh đến Thiên Tân đã chỉ huy quân triều đình bao vây quân Nghĩa Hòa Đoàn. Đồng thời, cùng lúc đó, một lực lượng quân triều đình tiến hành tập kích từ phía sau làm hơn hai nghìn chiến sĩ Nghĩa Hòa Đoàn thương vong, phá hủy hoàn toàn các cứ điểm của quân Nghĩa Hòa Đoàn ở Thiên Tân. Vừa phải chiến đấu chống quân triều đình, vừa phải chiến đấu chống quân Tây dương, sau những hy sinh nặng nề, cuối cùng, ngày 17 tháng 6 (tức ngày 13 tháng 7 dương lịch), Thiên Tân rơi vào tay liên quân tám nước.

Sau đó, liên quân tám nước đã tiến hành cuộc thảm sát và cướp bóc vô nhân đạo ở Thiên Tân rồi tiến về phía Bắc Kinh. Từ Hy Thái hậu hoảng sợ, cử Vĩnh Lộc tới sứ quán của quân xâm lược cầu hòa, mang nhiều của ngon vật lạ tới thăm hỏi. Quân xâm lược không thèm chú ý, tiếp tục tiến về Bắc Kinh. Từ Hy Thái hậu đành phải hóa trang thành một phụ nữ nông dân mang theo Hoàng đế Quang Tự và các văn võ đại thần được một bọn nguời bảo vệ lặng lẽ tới Tây An. Các quý tộc và đại thần cũng đua nhau bỏ chạy. Thành Bắc Kinh chẳng mấy chốc rơi vào tình trạng hỗn loạn. Để ổn định tinh thần dân chúng, Nghĩa Hòa Đoàn một mặt tổ chức lực lượng, chuẩn bị chống quân xâm lược một mặt ngăn chặn quan quân triều đình bỏ chạy. Khi quân Nga cùng liên quân các nước tới Đông Tiện môn, quân Nghĩa Hòa Đoàn anh dũng chiến đấu, giết chết một tướng quân, hai quan thống binh và rất nhiều binh lính. Quân Nhật Bản xảo quyệt dùng trang phục quân triều đình, giả làm quân của Tống Khánh cùng với Hán gian chui vào đội ngũ Nghĩa Hòa Đoàn tới trước cửa Triều Dương và Đông Trực gọi lính canh cửa Nghĩa Hòa Đoàn mở cổng. Quân Nghĩa Hòa Đoàn mắc mưu mở cổng thành. Ngày 20 tháng 7 (tức 14 tháng 8 dương lịch) liên quân tám nước tiến vào thành Bắc Kinh.

Trước hết, họ tập trung ở Đông Giao dân cảng, sau đó chia quân ra nhiều hướng, từ Thiên An Môn, Đông Hoa Môn cùng tiến đánh Hoàng cung. Quân Nghĩa Hòa Đoàn và một số vệ binh của Hoàng cung tiến hành những cuộc chiến đấu phòng ngự, họ dùng trường mâu, đại đao, gậy gộc và một số súng lấy được của địch để chống lại. Quân địch dùng các loại súng và pháo hiện đại tiến công, rất nhiều chiến sĩ đã hy sinh. Cuối cùng, họ đánh giáp lá cà với quân địch, dùng sức lực để chống lại sự xâm nhập của quân địch vào Hoàng cung. Qua ba ngày ba đêm chiến đấu, liên quân tám nước mới tiến được vào Hoàng cung, rồi chia Bắc Kinh làm nhiều khu vực khác nhau để chiếm đóng.

Sau ba ngày tiến hành cuộc đại thảm sát, liên quân tám nước còn tiến hành cướp bóc bất kể trên đường phố, chùa chiền hay nhà riêng của dân chúng. Bất cứ nơi nào Nghĩa Hòa Đoàn đã từng đặt chân, chúng đều đốt hết, số nguời bị thiêu cháy lên tới hơn 1.700 nguời. Nguời chết đầy đường, nguời còn sống cũng không có chỗ trú ngụ. Bất cứ ai bị nghi ngờ là quân Nghĩa Hòa Đoàn cũng đều bị giết, thậm chí cả trẻ con cũng bị chết vô cùng thảm thương. Có khi, thấy một đám đông trên đường phố, họ cũng xả súng cho tới khi không còn một nguời sống sót mới chịu dừng tay. Sau cuộc thảm sát của liên quân tám nước, đường phố Bắc Kinh đầy máu và xác chết. Sợ xác chết khắp nơi thối rữa phát sinh bệnh dịch, chúng cưỡng bức những nguời còn sống phải chôn cất. Những nguời này sau khi hoàn thành công việc cũng bị chúng bắn chết, thậm chí chôn sống. Những tổn thất sau cuộc tiến công này không thể thống kê đầy đủ. Những kỳ trân dị bảo, những văn vật quý hiếm trong Hoàng cung và Di Hòa Viên đều bị cướp sạch. “Vĩnh Lạc đại điển”, loại sách cổ nhất ở Trung Quốc cũng bị đốt cháy hoặc cướp đoạt. Nhiều bảo vật hiện nằm ở các viện bảo tàng ở Niu-Yooc, Pa-ri, Luân-đôn, …là những bằng chứng cho tội ác của quân xâm lược thời gian đó.

Đến lúc này, triều đình nhà Thanh một lần nữa lại cử Lý Hồng Chương nghị hòa với quân xâm lược, chấp nhận “Nghị hòa đại cương” do chúng đưa ra. Ngày 25 tháng 7 năm Quang Tự thứ 27 (ngày 7 tháng 9 năm 1901), lịch sử cận đại lại chứng kiến một Hiệp ước bán nước tủi nhục. Năm này theo âm lịch là năm Tân Sửu, cho nên Hiệp ước này được gọi là “Tân Sửu điều ước”. Điều ước đã cho phép các nước đế quốc được đặt tuyến đường sắt từ Bắc Kinh tới Sơn Hải Quan và binh lính thuộc các sứ quán được đóng quân ở Bắc Kinh, phá hủy pháo đài Đại Cô và pháo đài nằm giữa Bắc Kinh và Thiên Tân, bồi thường 450.000 vạn lượng bạc. Đây là một biểu hiện mới thể hiện các nước đế quốc chủ nghĩa tiến thêm một bước trong việc khống chế Trung Quốc, chính phủ triều Thanh đã hoàn toàn trở thành công cụ trong tay họ.

Chú thích:

Nghía Hòa Đoàn vận động: phong trào yêu nước tự phát do nông dân phương bắc phát động . Nghĩa Hòa Đoàn lấy “thiết đàn tập quyền” là phương thức hoạt động, ban đầu gọi là Nghĩa Hòa Quyền.
Edward Hobart Seymour (1840 – 1929): từ khi còn trẻ đã ghia nhập hải quân Anh quốc. Năm 1857, tham gia chiến tranh Nha phiến lần thứ hai. 1897 – 1901 làm Tư lệnh quân đội Anh ở Viễn đông.






No comments:

Post a Comment