Friday, October 26, 2018

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư – Wikipedia tiếng Việt


Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư (ngắn gọn: Bắc thuộc lần 4) hay còn gọi thời Minh thuộc trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ năm 1407 khi đế quốc Minh đánh bại nhà Hồ-Đại Ngu và chấm dứt năm 1427 khi Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh ra khỏi bờ cõi, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Thời kỳ thuộc Minh chỉ kéo dài 20 năm.





Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]


Trong những năm đầu thành lập triều Minh, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã công khai chinh sách hòa hoãn với các quốc gia nhỏ, giáp biên giới với Trung Quốc. Thậm chí, Minh Thái Tổ còn đặt ra danh sách các nước mà Trung Quốc không nên chinh phạt trong chính sách Bất chinh chư di quốc danh (不征諸夷國名 - Các nước man di không nên đánh). Nước Đại Việt (mà "Thiên triều" Trung Quốc quen gọi là An Nam) được đặt đầu tiên trong các nước hướng tây nam Trung Quốc.

Tại Đại Việt, cuối thế kỷ XIV nhà Trần sa sút, Phụ chính thái sư Lê Quý Ly dần dần kiểm soát cả triều đình, đưa ra nhiều biện pháp thanh trừng những người trung thành với triều Trần. Lê Quý Ly đổi họ Hồ, soán ngôi nhà Trần, lên làm vua năm 1400, đặt tên nước là Đại Ngu, bắt đầu thực hiện nhiều cải tổ trong hệ thống chính trị và xã hội. Tuy nhiên, do thực hiện quá nhiều thay đổi trong thời gian ngắn, lại không được nhiều cựu thần nhà Trần cũng như dân chúng ủng hộ, lại thêm tình hình kinh tế và xã hội toàn suy yếu vì nhiều nguyên nhân, nên đất nước rơi vào khủng hoảng.


Quân Minh tấn công Đại Ngu[sửa | sửa mã nguồn]


Nhân cơ hội Đại Ngu xảy ra loạn, sau một loạt thăm dò tình hình, năm 1406, Minh Thành Tổ Chu Đệ dùng chiêu bài "phù Trần diệt Hồ", sai hai tướng Hàn Quan, Hoàng Trung đem 10 vạn quân Quảng Tây xâm lược Đại Ngu, đánh tiếng là đưa Trần Thiêm Bình về làm vua (thực ra người này giả mạo là tôn thất nhà Trần). Quân Đại Ngu đón đánh ở biên giới, quân Minh thua trận chạy về. Vua Hồ Hán Thương bắt xử lăng trì Trần Thiêm Bình. Cuối năm này Minh Thành Tổ lại sai Trương Phụ và Mộc Thạnh đem 80 vạn quân đánh Đại Ngu. Quân Đại Ngu do thượng hoàng Hồ Quý Ly, hoàng đế Hồ Hán Thương chỉ huy nhanh chóng thất bại hoàn toàn vào giữa năm 1407. Cả Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị bắt về Trung Quốc, Đại Ngu bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Minh. Nước Việt bị Trung Quốc đô hộ trở lại sau 500 năm độc lập tự chủ.

Tướng Minh là Trương Phụ xúi giục một số người Việt đến trước quân doanh xin được trở lại làm quận huyện của nhà Minh vì nhà Trần đã tuyệt tự[1]. Minh Thành Tổ nhân đó đổi gọi Đại Ngu thành quận Giao Chỉ với các bộ phận Giao Chỉ đô chỉ huy sử ti (交址都指揮使司), Giao Chỉ đẳng xử thừa tuyên bố chính sử ti (交址等處承宣布政使司), Giao Chỉ đẳng xử đề hình án sát sử ti (交址等處提刑按察使司). Kinh đô Thăng Long trước đây đổi gọi là thành Đông Quan.



Quận Giao Chỉ được thiết lập bộ máy cai trị giống như các đơn vị hành chính của nhà Minh khi đó, gồm có 3 ty (Tam ty) trực tiếp thuộc vào triều đình Yên Kinh (sau này đổi thành Bắc Kinh):


  1. Giao Chỉ đô chỉ huy sử ti (交址都指揮使司) phụ trách quân chính

  2. Giao Chỉ đẳng xử thừa tuyên bố chính sử ti (交址等處承宣布政使司) phụ trách dân sự và tài chính

  3. Giao Chỉ đẳng xử đề hình án sát sử ti (交址等處提刑按察使司) phụ trách tư pháp
Bản đồ hành chính Trung Quốc thời Minh từ 1402-1424.

Các quan chánh, phó các ty đều là người phương bắc sang. Một số người Việt được trọng dụng vì có công với nhà Minh như Nguyễn Huân, Mạc Thúy, Lương Nhữ Hốt, Trần Phong, Đỗ Duy Trung…

Để duy trì bộ máy cai trị, năm 1407, nhà Minh thiết lập các vệ quân (5.000 quân) bản xứ, gồm Tả, Hữu, Trung đóng trong thành Đông Quan, Tiền quân đóng ở phía bắc sông Phú Lương, và các thiên hộ sở (1.000 quân), đóng đồn ở những nơi xung yếu, như Thị Cầu cần hai thiên hộ sở, Ải Lưu một thiên hộ sở. Đặt tại Xương Giang một vệ, và Qiu-wen(?) một vệ quân canh giữ. Trong đạo quân viễn chinh, 2.500 quân Quảng Tây, 4.750 quân Quảng Đông, 6.750 quân Hồ Quảng, 2.500 quân Triết Giang, 1.500 quân Giang Tây, 1.500 quân Phúc Kiến, hơn 4.000 quân Vân Nam được lệnh ở lại. Việc bắt lính bản địa được xúc tiến để hỗ trợ quân Minh đóng đồn giữ.[2]



Năm 1408, nhà Minh kiểm soát được dân số 3.120.000 người, người "man" 2.087.500 người thì sau 10 năm chỉ còn quản lý được 162.558 hộ với 450.288 nhân khẩu[3].

Cao Hùng Trưng, tác giả sách An Nam chí cho biết: Nhà Minh chia quận Giao Chỉ làm 17 phủ là:


Dưới 17 phủ là 47 châu, 154 huyện, 1 vệ, 13 sở, 1 thuyền chợ[4].

Trong 17 phủ trên, phủ Thăng Hoa thực chất chỉ đặt khống vì khi quân Minh tiến đến Hóa Châu thì vua Chiêm Thành là Ba Đích Lại đã mang quân chiếm lại những vùng đất phải nộp cho nhà Hồ trước đây (năm 1402) là 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Do đó trên thực tế nhà Minh chỉ cai quản Giao Chỉ gồm 16 phủ, địa giới phía nam chỉ đến Hóa Châu.[5]

Năm 1408, Trương Phụ tâu về nhà Minh: Giao Chỉ đông tây dài 1760 dặm, nam bắc dài 2700 dặm.

Để tăng cường quản lý Giao Chỉ, năm 1419, theo đề nghị của Lý Bân, nhà Minh tổ chức lại hệ thống xã thôn thành lý và giáp. Cứ 10 hộ thành 1 giáp do Giáp trưởng đứng đầu; 110 hộ thành 1 lý, do lý trưởng đứng đầu. Tương đương với lý, tại nội thành gọi là phường, tại ngoại thành gọi là sương.

Chức năng chính của Lý trưởng và Giáp trưởng là thu thuế cho chính quyền đô hộ. Họ thường bị ép bức và đánh đập nên khi được giao chức đều rất lo sợ.[4]

Để đảm bảo giao thông liên lạc giữa các phủ, châu, huyện của Giao Chỉ với Trung Quốc, năm 1415, nhà Minh cho mở đường thủy Vĩnh An, Vạn Ninh, đặt trạm tiếp đón tận Khâm Châu; đồng thời cho đặt trạm ngựa đến thẳng phủ Hoành Châu. Trên toàn địa bàn Giao Chỉ có 374 nhà trạm, nhiều nhất là phủ Giao Châu có 51 nhà trạm.



Năm 1407, khi mới chiếm được Giao Chỉ, nhà Minh sai lùng tìm người tài năng, có sức khỏe, các thợ giỏi bắt mang về Trung Quốc. Kết quả bắt được 7000 người về phục vụ cho triều đình nhà Minh. Nhiều người tài, nghệ nhân của Đại Việt bị bắt đem sang Trung Hoa phục dịch cho Minh triều, mà nổi bật nhất còn lưu lại trong sử sách nước này phải kể đến các vị Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn An...

Từ năm 1410, nhà Minh cho lập trường học ở các châu, phủ, huyện theo quy chế của Trung Quốc. Đến năm 1417 có 161 trường học. Tuy mở trường nhưng nhà Minh không tổ chức cho người Giao Chỉ thi mà chỉ để lựa chọn các nho sinh có học vấn để sung vào lệ tuyển cống cho triều đình hằng năm.

Những người hợp tác với quân Minh được đưa sang Trung Quốc để học hành một thời gian rồi đưa về phục vụ trong bộ máy cai trị tại Giao Chỉ. Điều đó nằm trong chính sách dùng người Việt trị người Việt của nhà Minh.



Năm 1407, sau khi đánh bại nhà Hồ, nhà Minh đã vơ vét mang về phương bắc 235.900 con voi, ngựa, trâu bò; thóc gạo 13,6 triệu thạch, thuyền bè 8670 chiếc, binh khí hơn 2,5 triệu chiếc[6].

Nhằm thực hiện nền thống trị lâu dài, nhà Minh không ngừng xây thành lũy, cầu cống, đường sá. Hàng chục vạn dân đinh từ 16 đến 60 tuổi phải ra các công trường với chế độ lao dịch cưỡng bức và sinh hoạt rất thiếu thốn[7].

Các công trường khai mỏ và mò ngọc trai cũng nhiều nhân công. Những người thợ phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, nguy hiểm đến tính mạng.

Chính sách thuế khóa nhà Minh áp dụng với Giao Chỉ rất nặng nề, trong đó có 2 ngạch chính là thuế ruộng đất và thuế công thương nghiệp[8]. Nhà Minh cử nhiều hoạn quan sang Việt Nam để tiến hành thu thập thuế, cống gửi về kinh đô, đồng thời vơ vét thêm chừng ấy nữa cho riêng mình.[9]. Các viên quan này tham lam đến độ chính bản thân Hoàng đế nhà Minh phải can thiệp vào việc chỉ định quan lại sang Giao Chỉ. Vua Minh Nhân Tông phải bác việc Mã Kỳ tiếp tục muốn được bổ nhiệm quản lý việc thu vàng, bạc, trầm hương, ngọc trai tại đây năm 1424.


Thuế ruộng[sửa | sửa mã nguồn]


Do thường xuyên phải đối phó những cuộc chống đối của người Việt, phạm vi kiểm soát ruộng đất của nhà Minh chỉ chủ yếu ở miền xung quanh Đông Quan.

Từ năm 1407 – 1413, nhà Minh không có khả năng quản lý ruộng đất, số ngạch khi tăng khi giảm không ổn định. Ruộng đất chỉ được trưng dụng một phần để ban cấp cho các thổ quan người Việt thay cho lương. Để cung ứng lương thực cho quân đội, nhà Minh không trông chờ vào nguồn tô thuế ruộng mà phải cho lính mở đồn điền tự sản xuất hoặc dùng hình thức trưng thu để vơ vét.

Năm 1414, sau khi dẹp xong nhà Hậu Trần, nhà Minh bắt dân Việt kê khai số ruộng đất trồng rau, trưng thu lương thực, tơ tằm và bắt đầu định ngạch thuế ruộng. Trên danh nghĩa thì lấy mức thu 5 thăng trên 1 mẫu như thời nhà Hồ, nhưng bắt dân tự khai khống 1 mẫu thành 3 mẫu để thu 3 phần thuế. Do đó trên thực tế mức thu cao gấp 3 lần nhà Hồ[10].


Thuế công thương nghiệp và thổ sản[sửa | sửa mã nguồn]


Ngoài thuế ruộng, còn nhiều loại thuế thủ công nghiệp và thương mại. Hàng loạt Ty Thuế khóa, Ty Hà bạc, Ty tuần kiểm được đặt ra để tận thu.

Để tăng cường khai thác tài nguyên, năm 1415 nhà Minh tiến hành khám thu các mỏ vàng, mỏ bạc, mộ phu đãi vàng và mò trân châu. Năm 1418, nhà Minh mở trường mò ngọc trai, tìm kiếm hương liệu; bắt người Việt săn bắt những thú vật quý để nộp như rùa 9 đuôi, vượn bạc má, chồn trắng, hươu trắng, voi trắng.

Đối với nghề nấu muối và bán muối, nhà Minh nắm quyền khai thác độc quyền. Người đi đường chỉ được đem 3 bát muối và 1 lọ nước mắm.

Chính sách thuế khóa của nhà Minh làm người Việt kiệt quệ điêu đứng. Việc làm sai dịch và nộp lương liên miên khiến năm 1418 từ Diễn Châu trở vào nam không được cày cấy[11]. Tuy nhà Minh thực hiện chính sách thuế khóa nặng nề, trưng thu lương thực, nhưng các cuộc nổi dậy liên tiếp cùng tình hình loạn lạc tại Giao Chỉ khiến việc chiếm đóng của nhà Minh trở nên rất tốn kém. Lương thực thu được tại chỗ không đủ cung ứng cho số quan lại và binh lính. Từ khoảng những năm 1420, nhà Minh liên tục phải vận chuyển lương thực từ Lưỡng Quảng sang Giao Chỉ để cung cấp. Việc điều động người và của cho các đợt viễn chinh liên tục đòi hỏi cả miền nam Trung Quốc phải cung cấp, phục dịch. Năm 1424, khi khởi nghĩa Lam Sơn lớn mạnh, nhà Minh mới ra một số chính sách xoa dịu người Việt như đình chỉ khai thác vàng bạc, khoan giảm trưng thu thuế khóa…



Tập quán, tôn giáo tín ngưỡng[sửa | sửa mã nguồn]


Người Việt bị bắt phải theo những phong tục tập quán của Trung Quốc: phải để tóc dài, không được cắt tóc; phải để răng trắng không được nhuộm; phụ nữ phải mặc áo ngắn quần dài (nguyên văn tiếng Hán: 短衣長裙 (đoản y trường quần), từ "quần" ở đây cũng có nghĩa là chỉ "váy") giống Trung Quốc. Quan lại phải đội khăn đầu rìu, áo viền cổ tròn có vạt, áo dài vạt bằng tơ lụa, hài ống cao có dây thắt.

Tục thờ cúng và sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt cũng bị đàn áp thô bạo. Nhiều đàn tràng thờ kiểu Trung Quốc được lập.

Đạo Phật tại Việt Nam phát triển cực thịnh vào thời Lý, Trần, có ảnh hưởng rất sâu rộng đến đời sống người dân Đại Việt. Số lượng trước tác về đạo Phật thời này rất nhiều, ngày nay chỉ còn lại Thiền uyển tập anh cũng là do chính sách hủy diệt của nhà Minh. Ðại Tạng Kinh thực hiện và ấn loát nhiều lần dưới triều Trần, mỗi lần in hàng ngàn cuốn; sách Thiền Tông Chỉ Nam, Bình Ðẳng Sám Hối Khoa Văn của Trần Thái Tông, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập, Trúc Lâm Hậu Lục, Tăng Già Toái Sự của Trúc Lâm Ðiều Ngự (tức vua Trần Nhân Tông) và tám tác phẩm của Pháp Loa không tác phẩm nào còn lại.

Nhà Minh đưa sang những tác phẩm Trung Hoa về Nho giáo, Phật giáo, Lão Giáo cho người Việt học. Chính quyền đô hộ lập Tăng Cương Ty và Ðạo Kỳ Ty để lo việc giáo dục Phật giáo và Lão Giáo theo mẫu mực Trung Hoa[12].


Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]


Đại Việt từ khi chính thức độc lập vào thế kỷ X, trải qua hơn 500 năm đã lớn mạnh nhanh chóng, giữ vững bờ cõi, xâm lấn về phía nam, tất cả các mặt đều phát triển mạnh mẽ, nhất là văn hóa đã trở thành quốc hồn quốc túy và có nhiều nét riêng biệt so với Bắc triều. Chẳng hạn vua Trần Nhân Tông xuất gia lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là việc chưa hề thấy trong lịch sử Trung Hoa. Sự lớn mạnh và độc lập của Đại Việt là một hiểm họa cho Bắc triều đã được chứng minh qua các cuộc chiến tranh Việt - Tống, Việt - Nguyên; nên nhà Minh từ khi nắm quyền không thể không biết. Nhằm thủ tiêu nền văn hóa của người Việt, ngay năm 1406, khi phát binh đánh Đại Ngu, Minh Thành Tổ đã ban sắc viết:


Khi binh lính vào nước Nam, trừ các kinh Nho gia, kinh Phật, đạo Lão không thiêu hủy. Ngoài ra, tất cả sách vở, văn tự cho đến các loại văn tự ghi chép ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ con học… đều đốt hết. Phàm những văn bia do Trung Quốc dựng từ xưa thì đều phải giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ không để sót[13].

Năm 1407, Minh Thành Tổ ra chiếu lệnh thứ hai nhằm hủy diệt văn hóa triệt để hơn[14].:


Nhiều lần trẫm đã bảo các ngươi, phàm An Nam có văn tự gì, kể cả các câu hát dân gian,… các bia dù dựng lên một mảnh, hễ nom thấy là phá hủy hết. … Sách vở do quân lính bắt được phải ra lệnh đốt luôn, chớ được lưu lại

Sự hủy diệt đó khiến Ngô Sĩ Liên, nhà sử học chứng kiến những sự kiện này than rằng:


Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy quân Minh cuồng bạo. Sách vở cả nước thành một đống tro tàn

Năm 1418, nhà Minh sai Hạ Thanh và Hạ Thì sang thu các loại sách ghi chép về sự tích xưa của người Việt đưa về Trung Quốc. Các tác phẩm văn học, sử học, pháp luật, quân sự của đời trước đã bị tịch thu gồm[15]:


Lấy đi sách vở của người Việt, nhà Minh mang sang những sách vở Trung Quốc phát cho các thôn, huyện để tuyên truyền văn hóa Trung Quốc.



Xem chi tiết: Nhà Hậu Trần, Khởi nghĩa Lam Sơn

Ngay khi nhà Hồ thất bại, đã có nhiều phong trào chống Minh bắt đầu nổi lên. Trong các phong trào chống Minh, lớn nhất là sự nổi dậy của nhà Hậu Trần và khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi.

Giữa năm 1407, nhân dân huyện Đông Lan và Trà Thanh thuộc Diễn Châu nổi dậy phá ngục, giết huyện quan. Trương Phụ và Trần Húc mang quân vào dẹp.

Tại châu Thất Nguyên (Lạng Sơn), dân tộc bản địa lập căn cứ chống Minh. Trương Phụ sai Cao Sĩ Văn đi đánh, đến châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) thì bị quân khởi nghĩa giết chết. Sau Trương Phụ phái Trình Dương tăng viện mới thắng được.

Tháng 11 năm 1407, Phạm Chấn nổi dậy, lập Trần Nguyệt Hồ - một người tự xưng là tông thất nhà Trần - làm vua ở Bình Than. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn, Trần Nguyệt Hồ bị bắt, Phạm Chấn trốn thoát và gia nhập cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần.

Dù ban đầu lấy chiêu bài "Phù Trần diệt Hồ" nhưng thực chất sau đó nhà Minh lại sai lùng bắt con cháu nhà Trần. Sự nổi dậy của nhà Hậu Trần bắt đầu từ cuối năm 1407 với sự kiện Trần Ngỗi lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu Giản Định. Quân Hậu Trần đã làm chủ từ Thuận Hóa trở ra, tiến ra bắc và đánh bại 10 vạn quân Minh do Chinh di tướng quân Mộc Thạnh, Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn chỉ huy trong trận Bô Cô cuối năm 1408. Nhưng sau đó hiềm khích trong nội bộ khiến lực lượng bị suy yếu nghiêm trọng. Quân Minh bắt được vua Giản Định mang về giết. Cháu Giản Định là Trần Quý Khoáng (Hoàng đế Trùng Quang) tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến. Năm 1413, sau trận thư hùng đẫm máu ở kênh Sái Già (Thuận Hoá), vua Trùng Quang và các tướng lĩnh tự sát. Nhà Hậu Trần chấm dứt.

Cùng thời gian nhà Hậu Trần nổi lên, trong năm 1407 - 1408 còn các phong trào nhỏ lẻ khác như Chu Sư Nhan ở An Định (Thái Nguyên), Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bí ở Thái Nguyên, Trần Nguyên Thôi ở Tam Đái (Phú Thọ), Trần Nguyệt Tôn ở Đồng Lợi... Do các cuộc khởi nghĩa này quy mô nhỏ, không liên kết được với nhau nên nhanh chóng bị dẹp.

Từ cuối năm 1409, khi Trùng Quang Đế lên ngôi, có thêm nhiều cuộc khởi nghĩa khác. Hoàng Cự Liêm từng bị quân Minh đánh bại, bỏ trốn lại nổi dậy. Thiêm Hữu và Ông Nguyên dấy quân ở Lạng Giang. Bùi Quý Thăng, Nguyễn Khắc Chẩn, Nguyễn Trà, Dương Thế Chân và Ông Lão nổi lên ở Thái Nguyên. Ngoài ra ở Thái Nguyên còn có quân khởi nghĩa "áo đỏ" hoạt động mạnh trong vùng rừng núi và vào thượng du Thanh Hoá, Nghệ An.

Đồng Mặc khởi nghĩa ở Thanh Hóa, bắt sống được tướng Minh là Tả Địch và buộc Vương Tuyên tự vẫn. Tại Thanh Oai (Hà Nội) có khởi nghĩa Lê Nhị. Lê Nhị bắt giết cha con tướng Lư Vượng và chiếm giữ Từ Liêm.

Năm 1410, Nông Văn Lịch khởi nghĩa ở Lạng Sơn, giết được nhiều quân Minh. Hàng tướng người Việt là Mạc Thúy mang quân lên dẹp bị trúng tên tử trận.

Sang năm 1411, Trương Phụ được lệnh mang quân sang tiếp viện cho Mộc Thạnh để dẹp các phong trào chống đối của người Việt một lần nữa. Nhà Minh huy động quân 6 Đô ty Tứ Xuyên, Quảng Tây, Giang Tây, Hồ Quảng, Vân Nam, Quý Châu và 14 vệ tiến sang.

Sau khi dẹp được nhà Hậu Trần, quân Minh quay sang dẹp các cuộc khởi nghĩa nhỏ khác. Lúc này nhà Minh cho rằng sự bình định ở Giao Chỉ cơ bản đã hoàn thành, nên điều Trương Phụ cùng một phần lớn đạo quân viễn chinh về nước. Việc đánh dẹp và chiếm giữ được giao lại cho các đạo quân phần nhiều gồm binh lính mộ bản xứ và có các chỉ huy là người Việt. Đây có lẽ là lý do sự chiếm đóng của nhà Minh nhanh chóng sụp đổ khi các binh lính người Việt này nổi dậy hoặc hưởng ứng các cuộc nổi dậy sau này.[16]

Em Trùng Quang Đế là Trần Quý Tám thu thập tàn quân Hậu Trần khởi binh. Một tông thất khác cũng có tên là Trần Nguyệt Hồ (không phải Trần Nguyệt Hồ khởi nghĩa ở Bình Than năm 1407) cũng nổi dậy. Một vài cánh quân nhỏ khác hưởng ứng như Nguyễn Tông Biệt, Hoàng Thiêm Hữu. Tới năm 1415, hầu hết các cánh quân khởi nghĩa bị dẹp, chỉ còn vài phong trào với quy mô hẹp và không ảnh hưởng tới sự cai trị của nhà Minh như Trần Quý Tám ở Tĩnh An (Quảng Ninh), Nguyễn Tống Biệt ở Hạ Hồng,...

Từ năm 1417 trở đi, một loạt các cuộc khởi nghĩa mới lại bùng lên, lần này cuốn hút cả các quan lại người Việt vốn cộng tác, hoặc đầu hàng nhà Minh trước kia. Năm 1417, tổng binh Lý Bân đánh dẹp hai cuộc khởi nghĩa lớn. Đến năm 1418, hai cuộc khởi nghĩa mới lại bùng phát. Theo Dreyer, đợt khởi nghĩa này trùng với thời kỳ nhà Minh mở rộng xây cất tại Bắc Kinh và phát triển hạm đội hải hành viễn chinh Nam Á. Việc xây cất và đóng thuyền đòi hỏi một lượng lớn nhân lực vật lực, đặc biệt là gỗ tốt, mà nguồn cung cấp từ nội địa Trung Quốc đã giảm sút. Việc quan lại nhà Minh, như hoạn quan Mã Kỳ, tăng sưu dịch, vơ vét nguyên liệu, dồn gánh nặng khai thác gỗ lên các tỉnh mới chiếm được như Giao Châu có lẽ đã làm bùng phát sự bất mãn của dân chúng, và cả quan lại người Việt, dẫn đến một làn sóng chống đối nữa.[17]

Năm 1418, Lê Lợi dấy binh, bắt đầu khởi nghĩa ở Lam Sơn. Thời gian đầu, quân Lam Sơn gặp nhiều khó khăn ở vùng núi Thanh Hóa. Từ năm 1424, quân Lam Sơn thay đổi chiến thuật: tiến vào Nghệ An, giải phóng toàn bộ vùng đất phía nam. Sau đó Lê Lợi tiến ra bắc, đánh bại các đạo quân sở tại và 4 đạo quân viện binh lần lượt sang từ năm 1426 đến 1427.

Cuối cùng, tướng nhà Minh là Vương Thông phải xin giảng hòa, rút quân về nước. Người Việt giành lại quyền độc lập tự chủ sau 20 năm. Lê Lợi lên ngôi vua, lập ra nhà Hậu Lê.


Các tướng văn, võ nhà Minh ở Giao Chỉ[sửa | sửa mã nguồn]


  • Người Minh: gồm có Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân, Vương Thông, Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Hoàng Phúc, Liễu Thăng

  • Người Việt: gồm có Nguyễn Huân, Mạc Thúy, Lương Nhữ Hốt, Trần Phong, Đỗ Duy Trung, Phan Liêu



  1. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 59-60

  2. ^ Ming Shi-lu, Vol 11, trang 0958/59

  3. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 63

  4. ^ a ă Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 62

  5. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 59

  6. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 59

  7. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 73

  8. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 69

  9. ^ Karl Hack, trang 84

  10. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 70

  11. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 71

  12. ^ “Error”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 

  13. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 338

  14. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 339

  15. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 75-76

  16. ^ Karl Hack, trang 88

  17. ^ Dreyer, trang 211



Tiếng Việt


  • Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội

  • Đặng Huy Phúc (2005), Đặng Tất - Đặng Dung, Nhà xuất bản Trẻ

Tiếng Anh


Lương Giản Văn Đế – Wikipedia tiếng Việt


Lương Giản Văn Đế (梁簡文帝, 503–551), tên húy Tiêu Cương (蕭綱), tên tự Thế Toản (世纘), tiểu tự Lục Thông (六通), là một hoàng đế của triều đại Lương trong lịch sử Trung Quốc. Ông là thứ tử của Lương Vũ Đế, và trở thành thái tử vào năm 531 sau khi đại huynh Tiêu Thống qua đời. Năm 549, phản tướng Hầu Cảnh đã chiếm kinh thành Kiến Khang và tiến hành quản thúc với Lương Vũ Đế và Thái tử Tiêu Cương. Hầu Cảnh đã đưa Thái tử Tiêu Cương lên ngôi (tức Giản Văn Đế) sau khi Lương Vũ Đế qua đời.

Trong thời gian trị vì của mình, Lương Giản Văn Đế hầu như hoàn toàn bị Hầu Cảnh khống chế. Năm 551, Hầu Cảnh đã lập kế hoạch soán vị, trước tiên buộc Lương Giản Văn Đế phải thiện nhượng cho chất tôn là Dự Chương vương Tiêu Đống, và sau đó phái người đi giết chết cựu hoàng đế.





Tiêu Cương sinh năm 503 và là đệ tam tử của Lương Vũ Đế. Mẹ của ông là quý tần Đinh Lệnh Quang (丁令光), bà cũng hạ sinh cho Lương Vũ Đế trưởng tử Tiêu Thống, và do đó có được địa vị đặc biệt trong hậu cung mặc dù chưa từng được tấn phong làm hoàng hậu. Năm 506, khi mới được ba tuổi, Tiêu Cương được sách phong là Tấn An vương. Đến khi lớn tuổi hơn, ông cũng dần thụ một số chức vụ cao cấp. Năm 526, khi Đinh quý tần qua đời, ông đã từ bỏ các chức vụ này để chịu tang mẹ, song Lương Vũ Đế đã phục chức cho ông trước khi thời gian để tang kết thúc.

Sau khi Đinh quý tần qua đời, mối quan hệ giữa Thái tử Tiêu Thống và Lương Vũ Đế đã trở nên xấu đi. Khi Đinh quý tần được an táng, một đạo sĩ Đạo giáo đã nói với Tiêu Thống rằng mảnh đất đó sẽ đem đến vận xấu cho Tiêu Thống- con trai trưởng của Đinh quý tấn. Do đó, Tiêu Thống đã cho phép đạo sĩ chôn một vài món đồ để hóa giải vận xấu, như vịt sáp, tại vị trí dành cho người con trai trưởng. Đến khi Lương Vũ Đế điều tra thì đã tìm thấy vịt sáp, hoàng đế trở nên sửng sốt và tức giận và Thái tử Tiêu Thống đã không bao giờ có thể thanh minh hoàn toàn cho mình trong suy nghĩ của phụ hoàng.

Năm 531, Thái tử Tiêu Thống qua đời, Lương Vũ Đế triệu trưởng tử của Tiêu Thống là Hoa Dung công Tiêu Hoan (蕭歡) trở về kinh thành Kiến Khang, chuẩn bị để lập Tiêu Hoan làm hoàng thái tôn. Tuy nhiên, do vẫn còn bực bội trước vụ ma thuật khi xưa, cuối cùng Lương Vũ Đế đã không làm như vậy. Thay vào đó, chống lại quan điểm của Nho giáo, Lương Vũ Đế đã lập Tiêu Cương làm hoàng thái tử. Quân sư của Tiêu Cương là Chu Hoằng Chính (周弘正) đã khuyên Tiêu Cương từ chối, song Tiêu Cương đã không làm theo, song sau đó đã báo thù cho đại huynh khi hành quyết Bào Mạc Chi (鮑邈之).



Khi là thái tử, Tiêu Cương là một thi nhân xuất sắc, ông cũng chiêu nạp các văn sĩ như Từ Li (徐攡). Một trong các tác phẩm của Thái tử mô tả một sinh hoạt chậm rãi quẩn quanh bên một chiếc giường giát ngà coi, bao quanh là các bức màn lông vũ, cùng một luyến đồng. Vì bài thơ này do ông viết, một số người đã khẳng định Tiêu Cương là người đồng tính luyến ái.

Do Lương Vũ Đế đã có tuổi, các em trai Tiêu Cương ít tuân theo các thánh chỉ, và trên thực tế họ giống như một hoàng đế tại châu mà họ cai quản. Lo sợ rằng các hoàng đệ sẽ tranh giành quyền lực, Tiêu Cương đã tuyển các binh lính tinh nhuệ vào cấm quân để bảo vệ Đông cung. Tiêu Cương tôn kính triết lý Đạo giáo, và thường giảng về Đạo đức kinhTrang tử.

Năm 547, tướng Hầu Cảnh của Đông Ngụy do xung đột với thượng trụ quốc mới là Cao Trừng nên đã dâng 9 châu nằm giữa Hoàng Hà và Hoài Hà cho Lương để xin cứu viện (4 châu đã bị quân Tây Ngụy chiếm từ trước đó). Tuy nhiên, cả Trinh Dương hầu Tiêu Uyên Minh và Hầu Cảnh đều bị tướng Mộ Dung Thiệu Tông của Đông Ngụy đánh bại. Tiêu Uyên Minh bị bắt, trong khi Hầu Cảnh chạy thoát và chiếm thành Thọ Dương (壽陽, nay thuộc Lục An, An Huy), thủ phủ Nam Dự châu của Lương. Tuy nhiên, thay vì trừng phạt Hầu Cảnh, Lương Vũ Đế lại cho Hầu Cảnh cai quản Nam Dự châu. Không rõ liệu Tiêu Cương có tham gia vào việc đưa ra các quyết định này hay không, song rõ ràng là ông được thông báo về chúng vì ông đã tiết lộ các quyết định này cho trợ thủ là Hà Kính Dung (何敬容).

Tuy nhiên, Hầu Cảnh đã nổi dậy vào mùa hè năm 548. Quân của Hầu Cảnh nhanh chóng tiến về Kiến Khang, nhận được sự hỗ trợ của Lâm Hà vương Tiêu Chính Đức, cuối cùng bao vây kinh thành triều Lương. Lương Vũ Đế đã cử Tiêu Cương trấn thủ kinh thành, song Tiêu Cương đã không thành công và để thành ngoại thất thủ. Quân Lương buộc phải rút vào trong Đài thành (tương đương hoàng cung). Đến khi Hầu Cảnh tuyên bố rằng viên quan hủ bại Chu Dị (朱异) là người mà ông ta muốn giết, Tiêu Cương đã xác nhận rằng Chu Dị thực sự phạm tội ăn hối lộ, song chống lại việc hành quyết Chu Dị do cho rằng hành động này sẽ không có lợi gì trong cuộc chiến chống Hầu Cảnh.

Ngay sau đó, Hầu Cảnh tuyên bố Tiêu Chính Đức là hoàng đế. Trong khi đó, quân các châu đã tập hợp gần Kiến Khang và cố gắng giải vây cho Đài thành dưới quyền chỉ huy của đại đô đốc Liễu Trọng Lễ (柳仲禮) và Tiêu Quan, song họ đã không thành công. Đến khi gần như vong mạng trong một trận chiến, Liễu Trọng Lễ đã không giao chiến thêm nữa với quân của Hầu Cảnh, để quân trong Đài thành tự bảo vệ lấy mình. Vào mùa đông năm 548, bộ tướng của Hầu Cảnh là Phạm Đào Bổng (范桃棒) đã đề nghị nổi dậy chống lại Hầu Cảnh, mặc dù Lương Vũ Đế ban đầu ủng hộ ý kiến này, song Tiêu Cương lại chống lại, và kế hoạch đã không được thực hiện. Ngay sau đó, Phạm Đào Bổng bị Hầu Cảnh giết chết, cơ hội cũng tuột mất.

Vào mùa xuân năm 549, Tiêu Cương đã cố gắng đàm phán hòa bình với Hầu Cảnh trong lúc quân của người này đang mệt mỏi. Thoạt đầu Hầu Cảnh chấp thuận, với điều kiện là ông ta được giao cho các châu ở phía tây Trường Giang. Tuy nhiên, ngay sau đó, Hầu Cảnh đã không giữ lời hứa và tiếp tục bao vây Đài thành. Cuối cùng, Đài thành thất thủ, Lương Vũ Đế và Thái tử Tiêu Cương trở thành con tin. Hầu Cảnh về mặt chính thức vẫn tôn kính với hai người như là hoàng đế và thái tử, mặc dù trước đó đã thỏa thuận với Tiêu Chính Đức là sẽ giết chết họ. Các thuộc hạ của Tiêu Cương đều bỏ chạy, ngoại trừ Từ Li và Ân Bất Hại (殷不害). Quân các châu đến cứu viện cho Kiến Khang bị giải tán, và Hầu Cảnh trên thực tế nay trở thành người kiểm soát khu vực kinh thành.

Mặc dù nắm dưới sự kiểm soát của Hầu Cảnh, song Lương Vũ Đế vẫn không chịu lép vế và đã từ chối thực hiện một số hành động mà Hầu Cảnh mong muốn. Tiêu Cương đã cố thúc giục phụ hoàng làm theo các yêu cầu của Hầu Cảnh, song Lương Vũ Đế cũng từ chối. Hầu Cảnh tiến hành canh gác chặt chẽ hơn đối với Lương Vũ Đế, khiến hoàng đế triều Lương phát bệnh mà qua đời (một số sử gia cho rằng Hầu Cảnh bỏ đói Lương Vũ Đế đến chết.) Tiêu Cương đã không dám than khóc trước cái chết của phụ hoàng, ông được Hầu Cảnh lập làm hoàng đế kế vị, tức Giản Văn Đế.



Giản Văn Đế về mặt chính thức đã được thứ sử các châu không nằm dưới quyền kiểm soát của Hầu Cảnh công nhận, song họ xem các thánh chỉ của ông là do Hầu Cảnh ép buộc và không chấp nhận nó. Thứ sử các châu này tiếp tục chống lại Hầu Cảnh, song họ cũng chống đối lẫn nhau để tranh giành lãnh địa, đến khi Hầu Cảnh tấn công thì họ không chống đỡ nổi và để mất lãnh địa. Đông Ngụy và triều đại kế tục là Bắc Tề nhân cơ hội này đã chiếm phần lớn các châu của Lương ở phía bắc Trường Giang.

Bản thân Giản Văn Đế đã cố gắng xây dựng một mối quan hệ với Hầu Cảnh để đảm bảo sự an nguy của bản thân. Năm 550, Giản Văn Đế gả nhi nữ là Lật Dương công chúa cho Hầu Cảnh. Hầu Cảnh rất sủng ái công chúa, và Giản Văn Đế được an toàn trong thời gian này. Ông sách phong trưởng tử Tiêu Đại Khí làm thái tử. Tuy nhiên, Hầu Cảnh vẫn tiến hành canh chừng nghiêm ngặt Giản Văn Đế, và chỉ có một vài hạ thần, bao gồm Vũ Lâm hầu Tiêu Tư (蕭諮), Vương Khắc (王克), và Ân Bất Hại là được phép đến gặp ông. Trong khi đó, hầu hết thứ sử các châu cuối cùng đã chấp thuận chịu sự chỉ huy của Tương Đông vương Tiêu Dịch (em trai Giản Văn Đế)- thứ sử của Kinh châu (荊州, nay là tây bộ Hồ Bắc).

Vào hè năm 550, Hầu Cảnh phái bộ tướng Nhâm Ước (任約) đem quân đi chinh phục khu vực trung tâm của Lương. Thoạt đầu, Nhâm Ức đã đánh bại và bắt được Tầm Dương vương Tiêu Đại Tâm (蕭大心)- thứ sử của Giang châu (江州, nay là trung bộ và bắc bộ Giang Tây), và sau đó tiếp tục cố gắng đoạt lấy lãnh địa của Tiêu Dịch. Khi Nhâm Ước không thể đánh bại bộ tướng Từ Văn Thịnh (徐文盛) của Tiêu Dịch, Hầu Cảnh đã đích thân dẫn quân cứu viện cho Nhâm Ước. Vào mùa đông năm 550, trong khi Hầu Cảnh đi khỏi Kiến Khang, chất tôn của Giản Văn Đế là Tiêu Hội Lý (蕭會理) đã lập mưu cùng kì đệ là Tiêu Nghệ Lý (蕭乂理), tướng Liễu Kính Lễ (柳敬禮), và hai đường huynh đệ của Giản Văn Đế là Tây Hương hầu Tiêu Khuyến (蕭勸) và Đông Hương hầu Tiêu Miễn (蕭勔), nhằm tiến hành một cuộc nổi dậy tại Kiến Khang và lật đổ Vương Vĩ (người của Hầu Cảnh). Tuy nhiên, âm mưu đã bị phát hiện, Vương Vĩ đã hành quyết Tiêu Hội Lý cùng các đồng mưu. Mặc dù Vương Vĩ không thể chỉ ra rằng Lương Vũ Đế có can dự vào âm mưu, song vì chuyện này mà Hầu Cảnh và Vương Vĩ lại càng nghi ngờ Giản Văn Đế. Do lo sợ, Vương Khắc và Ân Bất Hại đã dừng gặp hoàng đế, song Tiêu Tư thì vẫn tiếp tục. Đáp lại, Hầu Cảnh đã phát sát thủ đi ám sát Tiêu Tư. Giản Văn Đế cho rằng ông cũng sẽ bị giết, và ông đã nói điều này với Ân Bất Hại.



Vào hè năm 551, Hầu Cảnh lại một lần nữa dẫn quân đi cứu viện Nhâm Ước, đem theo Tiêu Đại Khí làm con tin. Với sự trợ giúp của Hầu Cảnh, Nhâm Ước ban đầu đã lấy được trọng thành Giang Hạ (江夏, nay thuộc Vũ Hán, Hồ Bắc), và Hầu Cảnh đã tiến sát đến căn cứ của Tiêu Dịch tại Giang Lăng (江陵, nay thuộc Kinh Châu, Hồ Bắc). Tuy nhiên, quân của Hầu Cảnh sau đó đã bị sa lầy khi cố bao vây Ba Lăng (巴陵, nay thuộc Nhạc Dương, Hồ Nam), do bộ tướng Vương Tăng Biện (王僧辯) của Tiêu Dịch đã phòng thủ thành công. Ngay say đó, quân của Hầu Cản cạn nguồn lương thực và suy sụp. Nhâm Ước bị bắt giữ và hai phúc tướng khác của Hầu Cảnh là Tổng Tử Tiên (宋子仙) và Đinh Hòa (丁和) bị giết chết. Hầu Cảnh phải chạy trốn về Kiến Khang.

Vương Vĩ có tranh chấp với Lật Dương công chúa và cho rằng bà rốt cuộc sẽ làm hại tới mình, vì thế Vương Vĩ đã thuyết phục Hầu Cảnh loại bỏ Giản Văn Đế để chứng tỏ quyền lực. Bản thân Hầu Cảnh muốn trở thành hoàng đế, và đến mùa thu năm 551, ông ta đã phế truất Giản Văn Đế và giáng cựu hoàng đế làm Tấn An vương, và đưa Dự Chương vương Tiêu Đống (trưởng tử của Tiêu Hoan) lên làm hoàng đế. Hầu Cảnh đã ra lệnh hành quyết tất cả những hoàng tử của Giản Văn Đế nằm trong tay mình, bao gồm cả Thái tử Tiêu Đại Khí. Sau đó, Hầu Cảnh đã hối tiếc vì đã thực hiện các bước đi này, và đã tính đến chuyện phục vị cho Giản Văn Đế và lập Tiêu Đống làm thái tử, song Vương Vĩ đã khuyên Hầu Cảnh không nên làm như vậy. Hầu Cảnh tiến hành quản thúc tại Vĩnh Phúc tỉnh đối với Tấn An vương.

Trong thời gian bị quản thúc, Tấn An vương rất buồn rầu và sợ hãi. Ông đã viết hàng trăm bài thơ, song vì không được cung ứng giấy để viết, ông đã viết các áng thơ lên tường và bình phong tại phủ. Chưa đầy hai tháng sau khi ông bị phế truất khỏi ngôi vị hoàng đế, Vương Vĩ đã thuyết phục Hầu Cảnh phải loại bỏ cựu hoàng, vì thế Hầu Cảnh đã phái Vương Vĩ cùng Bành Tuyển (彭雋) và Vương Tu Toản (王修纂) đến Vĩnh Phúc tỉnh vào một đêm. Tấn An vương biết được ý định của những người này nên đã thiết tiệc và uống rượu với họ, rồi trở nên rất say. Đến khi ông ngủ thiếp đi, họ đã làm ông chết ngạt, và sau đó đặt ông vào một chiếc quan tài, đem đi cất giữ tại một nơi nấu rượu. Năm 552, sau khi Vương Tăng Biện chiếm được Kiến Khang, Vương đã cho đưa quan tài của Giản Văn Đế vào hoàng cung và an táng với lễ nghi dành cho hoàng đế.



Hậu phi
  • Vương Linh Tân (王靈賓) (505-549), là thái tử phi khi Tiêu Cương còn là thái tử, mất trước khi Tiêu Cương đưng cơ trở thành hoàng đế, được truy thụy là Giản hoàng hậu, hạ sinh Tiêu Đại Khí, Tiêu Đại Liên và Tiêu Diệu Hoành

  • Phạm thục phi, sinh Lật Dương công chúa

  • Trữ tu hoa, sinh Tiêu Đại Cầu

  • Trần thục dung, sinh Tiêu Đại Tâm

  • Bao chiêu hoa, sinh Tiêu Đại Quân

  • Tả phu nhân, sinh Tiêu Đại Lâm và Tiêu Đại Xuân

  • Tạ phu nhân, sinh Tiêu Đại Nhã

  • Trương phu nhân, sinh Tiêu Đại Trang

  • Phạm phu nhân, sinh Tiêu Đại Uy

  • Trần phu nhân, sinh Tiêu Đại Hân

  • Chu phu nhân, sinh Tiêu Đại Chí
Tử
  • trưởng tử Tiêu Đại Khí (蕭大器), Tuyên Thành vương → Ai thái tử

  • nhị tử Tiêu Đại Tâm (蕭大心), Đang Dương công → Tầm Dương vương

  • tam tử Tiêu Đại Khoản (蕭大款), Thạch Thành công → Giang Hạ vương → Lâm Xuyên vương

  • tứ tử Tiêu Đại Lâm (蕭大臨), Ninh quốc công → Nam Hải vương

  • ngũ tử Tiêu Đại Liên (蕭大連), Lâm Thành công → Nam quận vương

  • lục tử Tiêu Đại Xuân (蕭大春), Tây Phong công → An Lục vương

  • thất tử tảo vong, chưa đặt tên

  • bát tử Tiêu Đại Thành (蕭大成), Tân Cam công → Sơn Dương vương → Quế Dương vương

  • cửu tử Tiêu Đại Phong (蕭大封), Lâm Tương công → Nghi Đô vương → Nhữ Nam vương → Tấn Lăng công (Bắc Chu)

  • thập tử tảo vong, chưa đặt tên

  • thập nhất tử tảo vong, chưa đặt tên

  • thập nhị tử Tiêu Đại Nhã (蕭大雅), Lưu Dương công

  • thập tam tử Tiêu Đại Trang (蕭大庄), Cao Đường công → Tân Hưng vương

  • thập tứ tử Tiêu Đại Quân (蕭大鈞), Tây Dương vương

  • thập ngũ tử Tiêu Đại Uy (蕭大威), Vũ Ninh vương

  • thập lục tử Tiêu Đại Huấn (蕭大訓)

  • thập thất tử Tiêu Đại Cầu (蕭大球), Kiến Bình vương

  • thập bát tử Tiêu Đại Hân (蕭大昕), Nghĩa An vương

  • thập cửu tử Tiêu Đại Chí (蕭大摯), Tuy Kiến vương

  • nhị thập tử Tiêu Đại Viên (蕭大圜), Lạc Lương vương → Tấn Hi vương → Thủy Ninh vương (Bắc Chu)
Nữ
  • Nam Sa công chúa, hạ giá Viên Hiến (袁憲)

  • Tiêu Diệu Hoành (蕭妙紘), Trường Sơn công chúa

  • Lật Dương công chúa, sau là phi của Hầu Cảnh

  • Dư Diêu công chúa, hạ giá Vương Phổ (王溥)

  • cửu nữ Hải Diêm công chúa, hạ giá Trương Hi (張希)

  • thập nhất nữ An Dương công chúa, hạ giá Trương Giao (張交), cũng xưng là Định Dương công chúa



Wikisource

Wikisource có các tác phẩm của hoặc viết về:



  • Lương thư, quyển 4

  • Nam sử, quyển 8

  • Tư trị thông giám, các quyển 146, 150, 155, 159, 160, 161, 162, 163, 164.


Tước hiệu
Tiền nhiệm:
Lương Vũ Đế
(502-549)

Hoàng đế Nhà Lương
549–551
Kế nhiệm:
Tiêu Đống (Dự Chương vương)
(551-552)

Video theo yêu cầu – Wikipedia tiếng Việt



Video theo yêu cầu (VOD) hay âm thanh và video theo yêu cầu (AVOD) là hệ thống cho phép người dùng lựa chọn và xem / nghe nội dung video hoặc âm thanh khi họ chọn, thay vì phải xem vào một thời gian phát sóng cụ thể. Công nghệ IPTV thường được sử dụng để mang lại các video theo yêu cầu cho TV và máy tính cá nhân.[1]

Hệ thống truyền hình VOD có thể chuyển tải một trong hai nội dung thông qua một hộp set-top, máy tính hay các thiết bị, cho phép xem trong thời gian thực, hoặc tải về một thiết bị như máy tính, máy ghi video kỹ thuật số (còn được gọi là máy ghi video cá nhân) hoặc thiết bị cầm tay media player để xem bất cứ lúc nào. Đa số các nhà cung cấp truyền hình cable và các công ty viễn thông cung cấp cả hai dựa trên VOD streaming, bao gồm pay-per-view và nội dung miễn phí, nhờ đó mà người dùng có thể mua hoặc chọn một chương trình phim truyền hình và nó bắt đầu được thiết lập để phát trên truyền hình gần như ngay lập tức, hoặc tải đến một DVR thuê từ nhà cung cấp, hoặc tải vào một máy tính, để xem trong tương lai. Truyền hình Internet, sử dụng Internet, là một hình thức ngày càng phổ biến của truyền hình video theo yêu cầu.

Một số hãng hàng không cung cấp AVOD trên máy bay như mang tới một giải pháp giải trí cho hành khách thông qua màn hình video cá nhân được kiểm soát và được nhúng trong lưng ghế hoặc phần tỳ tay hoặc được cung cấp thông qua các phương tiện khác. Các hệ thống hàng không cung cấp AVOD đến cho hành khách lựa chọn nội dung âm thanh được lưu trữ hay những video cụ thể và phát nó theo yêu cầu bao gồm cả tạm dừng, tua tới, và tua lại.

Các hình thức khác của video theo yêu cầu bao gồm "video thuê bao theo yêu cầu" (SVOD), trong đó bao gồm các dịch vụ như Netflix. Dịch vụ này yêu cầu người dùng phải trả một khoản phí hàng tháng để truy cập vào một gói nội dung. Một tập hợp các video theo yêu cầu là "video quảng cáo theo yêu cầu" (một loại AVOD), trong đó bao gồm các dịch vụ như Hulu hay của Sony Crackle. AVOD này thường là miễn phí cho người dùng, và các nền tảng này dựa vào việc bán quảng cáo là một nguồn thu nhập chính.





Phát triển VOD yêu cầu rất nhiều đàm phán để mở rộng và xác định một mô hình tài chính để có lãi cho các bên cung cấp dịch vụ, bên sáng tạo nội dung và các nhà cung cấp cáp trong khi cung cấp nội dung mong muốn cho người xem. Những yếu tố chính xác để xác định khả năng kinh tế của mô hình VOD bao gồm giá mua phim VOD, tỷ lệ ăn chia doanh thu giữa công ty điều hành cáp và công ty cung cấp nội dung.[2]

Nhà cung cấp cáp cung cấp VOD như một phần trong gói thuê bao kỹ thuật số. Trước năm 2005 nhà cung cấp chủ yếu là cho phép các thuê bao cáp chỉ truy cập vào một phiên bản theo yêu cầu của nội dung đó đã được cung cấp trước theo tuyến tính. Bao gồm trong các gói trên là các nội dung "mở rộng" và "các cảnh quay bị cắt" hơn là tập trung trọn bộ các chương trình truyền hình.



Tải về và streaming video theo yêu cầu trên hệ thống cung cấp cho người dùng một tập hợp lớn các chức năng của một chương trình VCR bao gồm cả tạm dừng, tua tới, tua nhanh, chậm về phía trước, quay lại chậm, nhảy đến trước / sau khung v.v... Các chức năng này được gọi là "trick modes”. Đối với các hệ thống dựa trên dòng đĩa trong đó lưu trữ các chương trình trực tiếp từ ổ đĩa cứng, các phương thức trick này đòi hỏi phải xử lý bổ sung và lưu trữ trên các phần của máy chủ, vì các tập tin riêng biệt cho chuyển tiếp nhanh chóng và tua lại phải được lưu trữ. Hệ thống VOD streaming dựa trên bộ nhớ có lợi thế là có thể thực hiện các chế độ trick trực tiếp từ RAM, mà không yêu cầu lưu trữ hoặc chu kỳ bổ sung trên một phần của bộ xử lý CPU.

Có thể đặt các máy chủ video trên các mạng LAN, trong trường hợp này các máy chủ có thể cung cấp các phản ứng rất nhanh chóng cho người dùng. Các máy chủ streaming video cũng có thể phục vụ một cộng đồng rộng lớn hơn thông qua một mạng WAN, trong trường hợp này tốc độ các phản ứng có thể không được nhanh. Dịch vụ download VOD là thiết thực cho những gia đình có trang bị modem cáp hoặc kết nối DSL. Máy chủ cho dịch vụ truyền hình cáp và viễn thông truyền thống VOD thường được đặt ở các đầu cáp để phục vụ một thị trường cụ thể cũng như các trung tâm cáp tại các thị trường lớn hơn. Trong công ty viễn thông trên thế giới, chúng được đặt trong các trung tâm hoặc văn phòng, hoặc tại một địa điểm mới được tạo ra có tên gọi là Video Head-End Office (VHO).



Từ tháng 9 năm 1994, một dịch vụ VOD hình thành một phần quan trọng của Cambridge Digital Interactive Television Trial[3] ở Anh. Video này được cung cấp dữ liệu tới 250 hộ gia đình và một số trường học được kết nối với mạng cáp Cambridge (sau này là một phần của NTL, bây giờ là Virgin Media). Các video mã hóa theo chuẩn MPEG-1 được xem trực tuyến qua mạng ATM từ một máy chủ phương tiện truyền thông ICL tới các settop box do Acorn Online Media thiết kế. Cuộc thử nghiệm bắt đầu với tốc độ 2 Mbit/s đến mỗi hộ gia đình, sau đó tăng lên đến 25 Mbit/s.[4] Nội dung được các công ty BBC và Anglia Television cung cấp. Mặc dù dự án thành công về mặt kỹ thuật, sự khó khăn trong việc tìm nguồn cung ứng nội dung là một vấn đề lớn, và dự án phải đóng cửa vào năm 1996.

Năm 1998, Kingston Communications đã trở thành công ty đầu tiên của Anh bắt đầu một dịch vụ VOD thương mại đầy đủ và đầu tiên tích hợp truyền hình phát sóng và truy cập Internet thông qua một hộp set-top đơn và phân phối tới IP thông qua ADSL. Vào năm 2001, Kingston Interactive TV đã thu hút được 15.000 thuê bao. Sau một số thử nghiệm, HomeChoice được thành lập tiếp theo vào năm 1999, nhưng bị hạn chế trong phạm vi Luân Đôn. Sau khi thu hút 40.000 khách hàng, HomeChoice đã được Tiscali mua lại trong 2006, công ty này, đến lượt nó, cũng được Talk Talk mua lại năm 2009. Các nhà cung cấp truyền hình cáp Telewest và NTL (nay là Virgin Media) ra mắt dịch vụ VOD của họ ở Vương quốc Anh vào năm 2005, cạnh tranh với các dịch vụ truyền thống hàng đầu về truyền hình trả tiền phân phối BSkyB. BSkyB phản ứng bằng cách tung ra dịch vụ Sky by Broadband, sau này đổi tên là Sky Anytime on PC. Các dịch vụ này được đưa ra vào ngày 02 tháng 1 năm 2006. Sky Anytime on PC sử dụng một cách tiếp cận hợp pháp peer-to-peer, dựa trên công nghệ Kontiki, để cung cấp việc download từ nhiều điểm của video nội dung với tốc độ rất cao. Thay vì các nội dung video được tải về từ máy chủ của Sky, các nội dung được tải về từ những người dùng của hệ thống đã xem nội dung trên. Đài phát thanh truyền hình Anh đã thực hiện các phiên bản riêng của họ về các công nghệ tương tự, chẳng hạn như BBC iPlayer, ra mắt vào 25 tháng 12 năm 2007, và 4oD của Channel 4 (4 On Demand) ra mắt vào cuối năm 2006. Một ví dụ khác của các nhà cung cấp video trực tuyến bằng cách sử dụng giao thức công nghệ peer-to-peer được dựa trên công nghệ Giraffic đã được đưa ra vào đầu năm 2011, với các nhà cung cấp Video-on-Demand trực tuyến lớn như phim truyền hình Mỹ dựa trên Veoh và Vương quốc Anh dựa trên dịch vụ cho thuê OnlineMoviesBox của công ty Craze. BBC, ITV và Channel 4 đã lên kế hoạch ra mắt một nền tảng chung tạm gọi là Kangaroo vào năm 2008.[5] Kế hoạch này đã bị bỏ rơi trong năm 2009 sau khiếu nại điều tra của Competition Commission. Cùng năm đó, các tài sản của dự án Kangaroo không còn tồn tại và đã được Arqiva mua lại.[6] Công ty này đã sử dụng các công nghệ trong dự án Kangaroo để khởi động các dịch vụ Seesaw trong tháng 2 năm 2010.[7] Tuy nhiên một năm sau đó dự án Seesaw đã bị đóng cửa vì thiếu nguồn tài trợ.[8]

Dịch vụ VOD hiện tại đang có trong tất cả các vùng của Hoa Kỳ, đây là tỷ lệ cao nhất trên toàn cầu của VOD.[9] Năm 2010, 80% người dùng Internet tại Mỹ đã xem video trực tuyến,[10] và 42% người dùng điện thoại di động tải về các ứng dụng ưa thích để xem thay vì xem video qua trình duyệt.[11] Hệ thống VOD streaming có sẵn trên máy tính để bàn và trên các nền tảng di động từ nhà cung cấp cáp (song song với công nghệ modem cáp), cho phép người dùng sử dụng băng thông trên các hệ thống cáp để cung cấp phim ảnh và truyền hình. Một khi video đã được download về, họ có thể tạm dừng, tua đi, tua lại và tua tốc độ cao, nhờ phim VOD có độ trễ thấp và cho phép truy cập ngẫu nhiên do bản chất của công nghệ số. Việc truyền tải thông tin lớn qua một đường truyền đơn làm cho VOD streaming là không thực tế đối với hầu hết các hệ thống truyền hình vệ tinh. Cả EchoStar / Dish Network và DirecTV đều cung cấp dich vụ video theo nhu cầu được lập trình cho thuê bao sở hữu PVR của dịch vụ truyền hình vệ tinh của họ. Sau khi chương trình đã được tải lên PVR của người dùng, họ có thể xem, chơi, tạm dừng, và tua nhanh một cách dễ dàng. VOD cũng khá phổ biến trong các khách sạn đắt tiền. Hệ thống VOD lưu trữ và cung cấp một giao diện cho người dùng và cho phép các nội dung tải về trực tiếp từ Internet một cách phổ biến.[cần dẫn nguồn]

Theo European Audiovisual Observatory (Đài quan sát nghe nhìn châu Âu), 142 dịch vụ VOD trả tiền đã hoạt động ở châu Âu vào cuối năm 2006. Con số tăng lên 650 vào năm 2009.[12]

Vào tháng 1 năm 2010, tại Consumer Electronic Show ở Las Vegas, Giám đốc điều hành của Sezmi, Buno Pati và chủ tịch Phil Wiser đã cho ra đời một hộp set-top với một ổ đĩa cứng 1TB có thể được sử dụng cho các dịch vụ video theo yêu cầu trước đây được cung cấp thông qua truyền hình cáp hoặc băng thông rộng. Ví dụ một bộ phim có thể được gửi đi khi sử dụng một tín hiệu phát sóng, hơn nhiều lần so với cáp hoặc đường dây cáp quang, và điều này sẽ không liên quan đến các chi phí của việc thêm nhiều đường dây. Sezmi lên kế hoạch để thuê phổ tần phát sóng để cung cấp một dịch vụ thuê bao mà Hiệp hội quốc gia của chủ tịch đài truyền hình Gordon H. Smith cho biết sẽ cung cấp một hình ảnh vượt trội với cáp hoặc vệ tinh, với một chi phí thấp hơn.[13]


Vai trò của vi phạm bản quyền và peer-to-peer[sửa | sửa mã nguồn]


Mặc dù video theo yêu cầu thường đề cập đến cơ chế phân phối hoạt động theo quy định của pháp luật, động lực cho sự phát triển của các dịch vụ video theo yêu cầu có thể được truy trở lại peer-to-peer kết nối mạng và sự phát triển của phần mềm chia sẻ file. Những đổi mới đã chứng minh rằng nó là kỹ thuật có thể cung cấp cho người tiêu dùng có khả năng xem những bộ phim từng được thực hiện, trong một cách mà không tạo ra gánh nặng cho các nhà cung cấp ban đầu và không cần chi phí để kết hợp với phương tiện truyền thông tập trung.

Nhiều dịch vụ pháp lý như Spotify[14] sử dụng peer to peer để phân bố quy mô tốt hơn các nền tảng của họ với những công ty khác như Netflix xem xét việc làm như vậy[15] để đối phó với các vấn đề quân bình Internet từ nhà cung cấp tầng dưới.

Torrent là một lựa chọn phổ biến để thay thế cho việc chia sẻ dữ liệu hợp pháp[16] với tỷ lệ 6%[17] lưu lượng truy cập internet toàn cầu dùng để chia sẻ file.



Subscription video on demand (SVOD) Thuê bao video theo yêu cầu là một dịch vụ được cung cấp bởi hệ thống thanh toán, trong đó chi phí thuê bao của họ một khoản phí hàng tháng cho việc truy cập các chương trình không giới hạn.



Near video on demand (NVOD) - Gần/xấp xỉ video theo yêu cầu là một kỹ thuật Video pay-per-view dành cho người dùng sử dụng thông qua sự cung cấp của các đài truyền hình đa kênh bằng cách sử dụng cơ chế phân bố băng thông cao như truyền hình vệ tinh và truyền hình cáp. Nhiều bản sao của một chương trình được phát sóng vào khoảng thời gian ngắn (thường là 10-20 phút) để tiện lợi cho người xem, cho phép họ có thể xem các chương trình mà không cần phải điều chỉnh trong thời gian ở tại một điểm định trước. Hình thức này rất tốn băng thông và thường chỉ được cung cấp bởi các nhà khai thác lớn với công suất dư thừa. Hình thức này càng ngày càng ít được phổ biến khi video theo yêu cầu được phát triển đại trà; chỉ các dịch vụ truyền hình vệ tinh Dish Network và DirecTV tiếp tục cung cấp những trải nghiệm một cách nghiêm túc NVOD cung cấp những trải nghiệm cần thiết cho nhiều khách hàng của họ không có quyền truy cập vào sản phẩm dịch vụ VOD băng thông rộng của cùng công ty. Trước sự gia tăng của video theo yêu cầu, pay-per-view nhà cung cấp In Demand tạo thuận lợi cho nhu cầu này bằng cách cung cấp tối đa 40 kênh vào năm 2002, với nhiều bộ phim chiếm đến bốn kênh trong lịch chiếu để cung cấp cho người dùng các trải nghiệm NVOD. Tính đến năm 2014, chỉ có bốn kênh (2 ở độ nét cao, 2 ở độ nét tiêu chuẩn) được cung cấp để phát sóng các sự kiện trực tiếp, cùng với các giải đấu ít được truyền trên các kênh thể thao (thay đổi theo từng nhà cung cấp) hiện có của các dịch vụ.


Tải trước video theo yêu cầu (push)[sửa | sửa mã nguồn]


Tải trước video theo yêu cầu là một kỹ thuật được sử dụng bởi một số đài truyền hình trên các hệ thống hiếu sự kết nối để cung cấp video đúng theo yêu cầu hoặc do các đài truyền hình muốn tối ưu hóa cơ sở hạ tầng truyền tải video của mình bằng cách tải trước nội dung phổ biến nhất cho các thiết bị tiêu dùng. Một hệ thống thúc đẩy VOD sử dụng một máy ghi video cá nhân (PVR) để lưu trữ một lựa chọn các nội dung, thường được lấy về ban đêm hoặc cả ngày ở băng thông thấp. Người dùng có thể xem các nội dung tải về tại thời điểm mà họ mong muốn, ngay lập tức và không có thời gian trễ. Theo thời gian nội dung chiếm nhiều không gian trên ổ đĩa cứng PVR, nội dung tải về thường bị xoá sau một tuần để nhường chỗ cho các chương trình mới. Các không gian hạn chế trên một ổ đĩa cứng PVR có nghĩa là việc lựa chọn các chương trình này thường được giới hạn trong các nội dung phổ biến nhất. Một thế hệ mới của giải pháp VOD gần đây xuất hiện trên thị trường bằng cách sử dụng các cơ chế sửa lỗi hiệu quả, có thể giải phóng lượng đáng kể băng thông và có thể cung cấp các dịch vụ khác không phải video như tạp chí, ứng dụng tương tác.


Danh mục bổ sung của video theo yêu cầu[sửa | sửa mã nguồn]


Video tương tác theo yêu cầu (IVOD) là phiên bản tiêu chuẩn của video theo yêu cầu, nơi mọi người có những đặc điểm sau:


  1. Play / Resume - Bắt đầu một chương trình / phim từ đầu hoặc tiếp tục sau khi tạm dừng chương trình.

  2. Stop - Temporarily tạm thời hoặc vĩnh viễn ngừng trình bày trong chương trình.

  3. Pause - Freeze đóng băng hình.

  4. Jump forward - Jump Nhảy về phía trước - Chuyển đến một thời điểm cụ thể trong bài trình bày (movie) theo một hướng về phía trước.

  5. Jump backward Nhảy lùi - Chuyển đến một thời điểm cụ thể trong bài trình bày (movie) theo một hướng ngược.

  6. Fast Forward (FF) - Duyệt qua các bộ phim theo hướng về phía trước với hình ảnh và âm thanh trên.

  7. Slow Down - Đi về phía trước với một tốc độ thấp hơn bình thường nhưng với hình ảnh và âm thanh.

  8. Reverse Đảo ngược - Chơi bộ phim theo hướng đảo ngược với hình ảnh và âm thanh.

  9. Fast Reverse Đảo ngược nhanh - Duyệt các bài thuyết trình theo hướng ngược với hình ảnh và âm thanh với tốc độ nhanh hơn so với tiêu chuẩn ngược lại.

  10. Slow Reverse Đảo ngược chậm: Tới ngược ở một tốc độ chậm hơn, với hình ảnh và âm thanh.

  11. Các tính năng tương tác khác bao gồm khả năng để tránh hoặc chọn quảng cáo, để điều tra thêm chi tiết về các sự kiện tin tức và để trình duyệt, chọn và mua hàng.
  • Exclusive video on demand (EVOD) Video độc quyền theo yêu cầu là khi một nhà cung cấp nội dung VOD dựa vào TV đặc biệt là cung cấp một chức năng, dịch vụ hoặc chương trình mà không có nhà cung cấp nội dung khác có, nó có thể được gọi là video độc quyền theo yêu cầu.

  • Impulse video on demand (IVOD) Video chủ động theo yêu cầu hiện nay thường được gọi là "video theo yêu cầu", nhưng trong quá khứ, thuật ngữ này thường được gọi là khả năng đặt hàng phim truyền hình dựa trên chương trình theo yêu cầu, mà không cần phải điện thoại đến nhà điều hành mạng.

  • Quasi video on demand (QVOD) Video gần như theo yêu cầu là giống như gần video theo yêu cầu, ngoại trừ các chương trình chỉ sẽ được trình bày nếu một số lượng tối thiểu của các thuê bao đăng ký cho nó.

  • Transactional video on demand (TVOD) Video giao dịch theo yêu cầu là đối lập của các thuê bao video theo yêu cầu (SVOD). Với giao dịch VOD khách hàng trả tiền cho mỗi video cá nhân về chương trình theo yêu cầu. Tuyến an toàn TVoD xác thực đến máy chủ video để xác minh thanh toán và ủy quyền dựa trên địa chỉ IP. Với đối lập của nó, SVOD, điển hình là các thuê bao trả một số tiền, (thường hàng tháng) cho một số tiền của video theo yêu cầu. Bây giờ hầu hết tham khảo đến giao dịch VOD chỉ đơn giản là "VOD".

  • Free video on demand (FVOD) Video miễn phí theo yêu cầu là video về chương trình theo yêu cầu rằng một nhà điều hành mạng làm cho có sẵn như là một phần của một gói nội dung. FVOD có thể làm cho các thuê bao có thể truy cập không giới hạn để xem phim / chương trình được cung cấp trong một khoảng thời gian cụ thể. Ngược lại là video thuê bao theo yêu cầu (SVOD), nơi một thuê bao trả một khoản phí tiêu chuẩn cho chương trình mà có thể không có, hoặc hạn chế quảng cáo. *OnDemand là một công ty trụ sở tại Anh thuộc sở hữu của Tập đoàn On Demand trong đó cung cấp FVOD qua Inview Technology; sản phẩm của họ Inview Inside là Royalty Free.

Catch up TV (hoặc Replay TV) là VOD, trong đó chương trình truyền hình có sẵn trong thời gian ngày sau khi phát sóng truyền hình gốc. Dịch vụ được cung cấp bởi các đại lý phát thanh truyền hình đương nhiệm sử dụng thuật ngữ này khi cung cấp điển hình thời gian hạn chế về lựa chọn VOD về lịch trình phù hợp với truyền chính của họ.




  1. ^ Broadband Users Control What They Watch and When

  2. ^ Rizzuto, Ronald J.Wirth (2002). “The Economics of Video On Demand: A Simulation Analysis”. Journal of Media Economics 15 (3): 209. doi:10.1207/s15327736me1503_5. 

  3. ^ The Cambridge iTV Trial

  4. ^ Cambridge Corners the Future in Networking, TUANZ Topics, Volume 05, No. 10, November 1995

  5. ^ Sweney, Mark (ngày 27 tháng 11 năm 2007). “Broadcasters to launch joint VoD service”. The Guardian (Luân Đôn). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2008. 

  6. ^ “Arqiva to launch video-on-demand service using Kangaroo technology”. BBC. Ngày 23 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 

  7. ^ “Internet TV service Seesaw launches beta trial”. BBC. Ngày 26 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 

  8. ^ “Arqiva to close SeeSaW”. BroadbandTvNews. Ngày 27 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 

  9. ^ “Percentage of subscribers who use video on demand on the TV by country in 2010 and 2011”. Statista. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 

  10. ^ http://www.tvgenius.net/blog/2010/11/16/viewers-treat-online-tv-differently-providers/

  11. ^ Saylor, Michael (2012). The Mobile Wave: How Mobile Intelligence Will Change Everything. Perseus Books/Vanguard Press. tr. 86. ISBN 978-1593157203. 

  12. ^ Video on demand and catch-up TV in Europe

  13. ^ Dickson, Glen (ngày 9 tháng 1 năm 2010). “NAB Shows Off New Spectrum Applications”. Broadcasting & Cable. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 

  14. ^ Ernesto. “Spotify: A Massive P2P Network, Blessed by Record Labels”. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2014. 

  15. ^ Brinkmann, Martin. “Could Netflix switch to P2P to lower ISP pressure?”. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2014. 

  16. ^ Siegal, Jacob. “‘Netflix for pirates’ brings streaming video to BitTorrent users”. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2014. 

  17. ^ “Application Usage & Threat Report”. 



  • Marriott, Michel (ngày 6 tháng 8 năm 2007). “Nothing to Watch on TV? Streaming Video Appeals to Niche Audiences”. The New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2008. 

  • “Google entering video-on-demand business”. CNET News. Ngày 6 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2008. 

  • “On-demand media: Re-inventing the retail business model”. Screen Digest. Tháng 3 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2008. 

  • “Pioneer Optical Disc Expertise Advances On-Demand DVD Entertainment”. Reuters. Ngày 6 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2008. 

  • Lotz, Amanda D. (2007) “The Television Will Be Revolutionized”. New York, NY: New York City University Press. p. 59

  • McGregor, Michael A., Driscoll, Paul D., McDowell, Walter (2010) “Head’s Broadcasting in America: A Survey of Electronic Media”. Boston, Massachusetts: Allyn & Bacon p. 47-48

  • “The Video on Demand Business Index”. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 

  • “MAVISE, Database on television and on-demand audiovisual services in Europe (European Audiovisual Observatory)”. 

  • “Market intelligence on the VoD markets in Europe (European Audiovisual Observatory)”. 

Phong trào Ngũ Tứ – Wikipedia tiếng Việt


Sinh viên Bắc Kinh biểu tình trong phong trào Ngũ Tứ

Phong trào Ngũ Tứ (hay còn gọi là Ngũ Tứ vận động, tiếng Trung: 五四运动) là một phong trào đấu tranh rộng lớn của sinh viên, học sinh, công nhân, thị dân, trí thức Trung Quốc, vì nổ ra đúng vào ngày 4 tháng 5 năm 1919 nên được gọi là phong trào Ngũ Tứ.





Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước thắng trận đã ký kết bản Hiệp ước Versailles, trong đó có điều khoản chuyển giao chủ quyền tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc) từ tay Đức sang cho Nhật Bản. Các tầng lớp nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là học sinh sinh viên đã đứng lên đấu tranh chống lại quyết định này. Phong trào lan rộng, chuyển mũi nhọn đấu tranh từ chống lại Hiệp ước Versailles sang chống lại chính phủ Trung Hoa Dân quốc lúc bấy giờ.



Ngày 4 tháng 5 năm 1919, hơn 3000 học sinh sinh viên của 13 trường đại học Bắc Kinh đã tập hợp trước quảng trường Thiên An Môn, tiến hành biểu tình thị uy trên các đường phố Bắc Kinh để chống lại Hiệp ước Versailles, với các khẩu hiệu như:


  • Ngoại tranh quốc quyền, nội trừng quốc tặc (ngoài: giành lại chủ quyền đất nước, trong: trừng trị bọn bán nước)

  • Trung Quốc là của người Trung Quốc

  • Phế bỏ Hiệp ước 21 điều (quy định quyền lợi của các nước phương Tây tại Trung Quốc)

  • Thề chết giành lại Thanh Đảo
...

Yêu sách của những người biểu tình là đòi xử tội ba nhân vật thân Nhật trong chính phủ Trung Hoa Dân quốc lúc bấy giờ:


  • Tào Nhữ Lâm (曹汝霖): Tổng trưởng Giao thông, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao của chính phủ Viên Thế Khải, người trực tiếp ký kết "Hiệp ước 21 điều"

  • Lục Tông Dư (陆宗舆): Tổng giám đốc Ngân hàng, nguyên công sứ Trung Quốc tại Nhật Bản, người đã ký vay nợ Nhật Bản

  • Chương Tông Tường (章宗祥)

Bản Tuyên ngôn của học sinh sinh viên đã nêu lên mục đích của phong trào:


"Đất đai Trung Quốc có thể bị chinh phục chứ không thể bị cắt cho. Nhân dân Trung Quốc có thể bị giết chứ không thể cúi đầu. Nước đã mất rồi! Đồng bào hãy vùng lên!"


Hưởng ứng lời kêu gọi của học sinh sinh viên Bắc Kinh, học sinh sinh viên các thành phố khác như Thiên Tân, Thượng Hải, Nam Kinh, Vũ Hán, Tế Nam, Trường Sa, Trùng Khánh, Quảng Châu... đều tổ chức mít tinh và biểu tình thị uy với quy mô lớn. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đã phái quân đội, cảnh sát đến đàn áp, ra lệnh cách chức hiệu trưởng trường Đại học Bắc Kinh Thái Nguyên Bồi, đuổi học và bắt giữ hơn 1000 học sinh sinh viên.

Đến ngày 19 tháng 5 năm 1919, học sinh sinh viên bắt đầu tổng bãi khoá. Ngày 3 tháng 6 năm 1919, công nhân, thương nhân, học sinh sinh viên cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân Thượng Hải đã tiến hành tổng bãi công, bãi thị, bãi khoá để ủng hộ phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên Bắc Kinh. Quân đội, cảnh sát ra sức đàn áp nhưng cuối cùng cũng bất lực trước làn sóng xuống đường của các tầng lớp nhân dân.

Phong trào Ngũ Tứ đã lan rộng khắp 22 tỉnh và 150 thành phố ở Trung Quốc, trong đó lên mạnh nhất ở Thiên Tân, Nam Kinh, Hàng Châu, Vũ Hán... lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia như học sinh, sinh viên, công nhân, thương nhân, thị dân, trí thức... Cuối cùng, chính phủ Trung Hoa Dân quốc buộc phải trả tự do cho tất cả những người bị bắt, cách chức Tào Nhữ Lâm, Lục Tông Dư, Chương Tông Tường, sau đó ra lệnh cho đoàn đại biểu Trung Quốc tại Pháp cự tuyệt ký vào Hiệp ước Versailles. Phong trào Ngũ Tứ coi như kết thúc thắng lợi.



Phong trào Ngũ Tứ có ảnh hưởng rất sâu rộng trong lịch sử Trung Quốc, thúc đẩy việc phát triển khoa học và dân chủ. Đồng thời qua phong trào này, chủ nghĩa cộng sản đã được nhanh chóng truyền bá vào Trung Quốc bởi tầng lớp trí thức như Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú... dẫn đến sự thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc vào tháng 7 năm 1921.




  • Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Huy Quý, Lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001

  • Đặng Đức An, Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000

Musée de la Vie Romantique – Wikipedia tiếng Việt


Musée de la vie romantique

Musée de la vie romantique (Bảo tàng cuộc sống lãng mạn) nằm ở 16 phố Chaptal, Quận 9 thành phố Paris. Được thành lập năm 1987, Musée de la vie romantique thuộc sự quản lý của chính quyền Paris, trưng bày các hiện vật về nhà văn George Sand và tác phẩm của họa sĩ Ary Scheffer. Ngôi nhà vốn được Scheffer cho xây dựng năm 1830, đã từng đón tiếp nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác như Frédéric Chopin, Eugène Delacroix và George Sand.

Năm 2007, Musée de la vie romantique đón 62.000 lượt khách thăm.[1]














Shurijo – Wikipedia tiếng Việt



Thành cổ Shuri (tiếng Okinawa: sui ugusiku, tiếng Nhật: 首里城 Shurijō, Hán Việt: Thủ Lý thành) là một gusuku (thành thuộc Ryūkyū) ở Shuri, Okinawa. Nó là một cung điện của vương quốc Lưu Cầu. Năm 1945, trong trận Okinawa, nó hầu như bị phá huỷ hoàn toàn, chỉ còn một vài bức tường cao vài chục cm. Năm 1992, nó được xây dựng lại trên nền cũ theo các tấm hình cũ và các ghi chép lịch sử.






Thời gian xây dựng toà thành vẫn chưa được xác định chính xác nhưng Shuri chắc chắn đã được dùng làm thành trong thời kỳ Sanzan. Có ý kiến cho rằng nó được xây dựng vào thời kỳ Gusuku cùng với những thành khác ở Okinawa. Khi vua Shō Hashi thống nhất 3 phần lãnh thổ của Okinawa và thành lập vương quốc Lưu Cầu, ông sử dụng thành Shuri làm nơi ở. Cũng vào thời gian này, Shuri đã phồn thịnh như là thủ đô và tiếp tục phát triển tiếp theo sau đó vào triều đại Sho thứ 2.

Trong khoảng thời gian 450 từ thế kỷ 15, nó là cung điện hoàng gia và trung tâm hành chính của vương quốc Lưu Cầu. Nó cũng là trung tâm thương mại với nước ngoài cũng như trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của Ryūkyū.

Theo các ghi chép, thành Shuri bị cháy nhiều lần, và được xây dựng lại sau các lần đó. Trước chiến tranh, nó được thiết kế làm ngân khố quốc gia, nhưng trong chiến tranh, quân đội Nhật Bản đã thiết lập cơ sở chỉ huy bên dưới thành, và từ 25 tháng 5 năm 1945, tàu chiến Hoa Kỳ Mississippi đã bắn pháp vào nó trong 3 ngày. Vào 27 tháng 5 nó bị cháy.[1] Sau trận chiến Confederate Battle Flag được kéo lên trên thành bởi Marine self với tên gọi "Rebel Company" (Company A of the 5th Marine Regiment). Người ta có thể nhìn thấy nó từ xa hơn 2 dặm và nó được cắm ở đây trong 3 ngày cho đến khi bị tháo xuống bởi Tướng Simon B. Buckner, Jr. (con trai của tướng) Simon Bolivar Buckner, Sr..

Sau chiến tranh, Đại học Ryukyu được chuyển đến nơi này cho đến năm 1975. Năm 1958, cổng Shureimon được xây dựng lại. Việc trùng tu được tiến hành từ năm 1990 và vào năm 1992, tòa nhà chính được xây dựng lại và mở cửa cho khác tham quan. Hiện tại, toàn bộ khuôn viên xung quanh thành được quy hoạch thành công viên thành Shuri (Shurijo koen).[2], Năm 2000, cùng với các gusuku khác và các kiến trúc liên quan được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Năm 2008, nó được chuyển thể thành video game tên Call of Duty: World at War.



Do là trung tâm chínhh trị và tôn giáo của người Ryūkyū, thành Shuri được bao bọc xung quanh bởi các di tích lịch sử hấp dẫn. Điểm nổi bật đó là Shureimon, cổng chính đi vào thành, và Tamaudun các ngôi mộ hoàng gia nằm cạnh thành Shuri.


Cổng đá của Sonohyan-utaki[sửa | sửa mã nguồn]



Cổng bằng đá nằm bên trái của cổng Shureimon được dựng lên vào năm 1519 bởi vua Shō Shin, vua thứ ba của triều đại Shō. Cổng đá phản ánh trình độ xây dựng cao cấp bằng đá vôi của vương quốc. Nó được thiết kế là một tài sản văn hóa quốc gia quan trọng, và đủ điểm nổi bật để được UNESCO chọn làm di sản thế giới Các di chỉ Gusuku và di sản liên quan của vương quốc Lưu Cầu, cùng với phần thành Shuri.



  • Motoo, Hinago (1986). Japanese Castles. Tokyo: Kodansha. tr. 200. ISBN 0-87011-766-1. 


Phương tiện liên quan tới Shurijo tại Wikimedia Commons


Tọa độ: 26°13′1,31″B 127°43′10,11″Đ / 26,21667°B 127,71667°Đ / 26.21667; 127.71667





Börfink – Wikipedia tiếng Việt


















Börfink
Huy hiệu
Vị trí
Huy hiệu Börfink

Börfink trên bản đồ Đức
Börfink

Hành chính
Quốc gia
Đức
BangRheinland-Pfalz
HuyệnBirkenfeld
Liên xãBirkenfeld
Thị trưởngMonika Schabert
Số liệu thống kê cơ bản
Diện tích8,22 km² (3,2 mi²)
Cao độ515 m  (1690 ft)
Dân số
188  (31/12/2006)
 - Mật độ23 /km² (59 /sq mi)
Các thông tin khác
Múi giờ
CET/CEST (UTC+1/+2)
Biển số xeBIR
Mã bưu chính54422
Mã vùng06782
Websitewww.gemeinde-boerfink.de

Tọa độ: 49°41′19,45″B 7°4′50,2″Đ / 49,68333°B 7,06667°Đ / 49.68333; 7.06667


Börfink là một đô thị ở huyện Birkenfeld, bang Rheinland-Pfalz, nước Đức. Đô thị Börfink có diện tích 8,22 km².